Thận trọng thuốc gây giảm khả năng sinh dục nữ

10:33 |
Với những người phải dùng thuốc trị bệnh, đặc biệt là các bệnh mạn tính, thì một trong những điều lo ngại nhất là tác dụng phụ của thuốc làm giảm khả năng tình dục. Ở phụ nữ, tình dục dễ bị chi phối bởi các yếu tố nhạy cảm như: tâm lý, hoàn cảnh... đồng thời các tác dụng bất lợi của thuốc gây giảm ham muốn tình dục cũng rõ nét hơn. 

Tác dụng phụ gây ảnh hưởng khả năng tình dục nữ 

Tác dụng phụ của thuốc gây hại cho tình dục rất đa dạng, ở cả nam và nữ, có thể ngắn hạn hay kéo dài, nhẹ hay nặng... Tác dụng bất lợi của thuốc tác động trực tiếp đến thực hành tình dục và ảnh hưởng cả về cảm xúc, tâm lý, dẫn đến giảm khả năng tình dục, mất hứng thú tình dục, không thỏa mãn và thậm chí ngại quan hệ tình dục. 


Hơn nữa, đặc trưng tình dục ở nữ giới chỉ được thực hiện khi có sự phối hợp các hoạt động tâm sinh lý của cơ thể. Do đó, những tác động tâm lý cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tình dục của nữ. 

Những tác hại của thuốc đối với tình dục ở nữ bao gồm các rối loạn như: tác động tới cảm xúc và cảm nhận khoái cực; thay đổi về sự tiết dịch nhờn âm đạo; giảm ham muốn tình dục; rối loạn hưng phấn; rối loạn cực khoái; giao hợp đau... 

Một số thuốc tác động khả năng sản sinh nội tiết tố - điều này cũng chi phối nhiều khả năng tình dục. Có loại thuốc gây tăng cảm giác cương đau vú; gây ban đỏ ngoài da, vì thế sẽ đau khi đụng chạm và ảnh hưởng đến cảm thụ tình dục của chị em. 

Những thuốc ảnh hưởng xấu tới tình dục ở nữ 

Thuốc chống trầm cảm: Thuốc chống trầm cảm đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị trầm cảm, nhưng đồng thời đây lại là loại thuốc gây nhiều tác hại cho khả năng tình dục. Bệnh nhân trầm cảm cần uống thuốc liên tục trong thời gian dài (tối thiểu một năm), nhiều người phải uống thuốc suốt đời. 

Các loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng, đa vòng, ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin... đều ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của bệnh nhân ở các mức độ khác nhau. Bệnh nhân nam thường than phiền khó cương dương vật, giảm ham muốn (dù tình trạng trầm cảm đã hết), khó xuất tinh. Bệnh nhân nữ thường thấy mất hết ham muốn, giảm tiết dịch âm đạo, gây đau rát khi quan hệ tình dục. 

Các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tình dục nhiều nhất là amitriptylin và fluoxetin. Các thuốc ít ảnh hưởng hơn đến ham muốn tình dục là tianeptil, fluvoxamin và mirtazapin. Để hạn chế ảnh hưởng của thuốc chống trầm cảm đến đời sống tình dục, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng kết hợp thuốc chống trầm cảm với các thuốc arcalion, piracetam hoặc ginko biloba... 

Trong một vài trường hợp điển hình, bệnh nhân phải đổi thuốc (nếu có thể). Giải pháp khác là loại bỏ các thuốc an thần, thuốc chỉnh khí sắc, vì chính các thuốc này ảnh hưởng xấu đến chức năng tình dục của bệnh nhân. 

Thuốc điều trị tăng huyết áp: Các thuốc kiểm soát huyết áp có tác dụng không mong muốn là làm giảm lưu lượng máu đến cơ quan sinh dục nên thường làm suy giảm hoạt động tình dục ở nữ giới (giảm ham muốn, rối loạn cảm xúc tình dục, ngại quan hệ tình dục...). 

Có thể kể đến các loại thuốc như: thuốc ức chế men chuyển (captopril, enalapril); thuốc đối kháng canxi (nifedipin, amlodipin); các thuốc chẹn bêta giao cảm (metoprolol, nadolol, propranolol); thuốc lợi tiểu thiazide (furosemid, hydrochlorothiazid). Các tác nhân hủy giao cảm trung tâm như α-methyldopa, clonidine và guanfacine gây suy giảm khả năng tình dục cho đa số người sử dụng. 


Thuốc giảm mỡ máu: Các thuốc điều trị mỡ trong máu như: thuốc nhóm statin (simvastatin, atorvastatin...), thuốc nhóm fibrat (fenofibrat, clofibrat...) có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu nên cũng làm giảm sự sản sinh các nội tiết tố estrogen và testosterone trong cơ thể. 

Điều này được lý giải là do cholesterol là nguyên liệu tổng hợp nên các nội tiết tố estrogen, testosterone. Khi sự sản sinh các nội tiết tố này bị giảm, phụ nữ sẽ giảm ham muốn tình dục, giao hợp đau, kém hưng phấn... 

Thuốc tránh thai: Nhiều loại thuốc tránh thai cũng ảnh hưởng nhất định làm giảm ham muốn tình dục của chị em. Hormon trong thuốc tránh thai sẽ ức chế và ngăn cản quá trình rụng trứng do làm giảm thấp mức testosteron, do vậy ảnh hưởng không nhỏ tới cảm xúc và ham muốn tình dục. Hơn nữa, thuốc tránh thai còn gây giảm dịch tiết âm đạo nên gây đau khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng cảm xúc tình dục. 

Thuốc chống động kinh và thuốc chống loạn thần: Các thuốc này gây suy giảm ham muốn tình dục do ảnh hưởng đến hoạt động hormon của hệ trục dưới đồi - tuyến yên - sinh dục, đặc biệt là những thuốc tác động đến hệ enzym cytocrome P450 ở gan. 

Ngoài ra, các thuốc chống loạn thần (risperidon, chloropromazine...) gây các tác dụng không mong muốn lên hoạt động tình dục do tác dụng chẹn anpha-giao cảm và ảnh hưởng đến lượng hormon (tăng prolactine máu). Ảnh hưởng rõ nét của các thuốc này cho tình dục nữ là tình trạng rối loạn cảm xúc, rối loạn cực khoái... 

Thuốc an thần: Do thuốc an thần tác dụng vào thụ thể GABA trong não, làm chậm lại các hoạt động của những chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, serotonin... Do đó, thuốc gây trạng thái mệt mỏi về tâm lý, uể oải, đờ đẫn về tinh thần hay ngủ gà ngủ gật nên dẫn đến giảm ham muốn và ngại quan hệ tình dục. 

Các loại thuốc khác: Một số loại thuốc, khi người bệnh phải dùng lâu dài cũng sẽ gây hại cho tình dục như: thuốc kháng histamin (chlorpheniramin, dexchlorpheniramin...); thuốc điều trị viêm loét dạ dày (cimetidin, omeprazol); các loại thuốc giảm đau có codeine và morphine có thể ảnh hưởng và kiểm soát lượng hormon của cơ thể, ảnh hưởng ham muốn tình dục. 

Lưu ý: Khi dùng thuốc mà gặp các tác dụng bất lợi cho tình dục, chị em cần thông báo cho bác sĩ điều trị để có hướng khắc phục, không để thuốc ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình.
Click đọc ngay…

Thuốc chống co giật do sốt, những lưu ý cần biết

17:18 |
Sốt cao co giật là một bệnh hay gặp ở trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi (chủ yếu ở lứa tuổi từ 12 – 18 tháng), cơn co giật xuất hiện khi có đợt sốt cao, chiếm tỷ lệ khoảng 5%. Đại đa số bệnh khỏi hoàn toàn, tuy nhiên ở một số trường hợp cần phải dùng thuốc để khống chế cơn co giật và tránh những tổn hại về não do sốt cao co giật gây nên. 

Sốt co giật có phải là bệnh động kinh? Sốt cao co giật là cơn giật xuất hiện khi có đợt sốt cao > 38oC (đo ở hậu môn), do nhiễm khuẩn hoặc virut nhưng không có tổn thương ở não cũng như không có rối loạn chuyển hóa. Sốt co giật không đồng nghĩa với động kinh, do đó chúng ta cần phân biệt giữa sốt co giật và bệnh động kinh. 


Trong trường hợp sốt co giật, cơn giật chỉ xuất hiện khi có sốt cao, cơn thường ngắn, tạm thời và không có biến chứng, có thể có một cơn duy nhất hoặc vài cơn tùy từng trường hợp. Ngược lại, ở bệnh nhân động kinh, một số cơn đầu tiên xuất hiện khi sốt nhưng những cơn sau đó xuất hiện ngay cả khi không sốt. 

Dùng thuốc gì để dự phòng cơn co giật khi sốt cao? 

Khi trẻ bị sốt, cần kiểm soát chặt chẽ để thân nhiệt không vượt quá 37,5oC. Dù chưa có bằng chứng để nói dùng thuốc hạ sốt để phòng được cơn co giật, nhưng điều quan trọng của thuốc hạ sốt là có thể làm giảm bớt những tổn thương do sốt cao gây ra. 

Mặc dù co giật do sốt tái phát không nhiều nhưng khi tái phát cơn thứ hai thì nguy cơ các cơn tiếp theo có thể xảy ra, vì thế cần theo dõi và đề phòng cơn tái phát. Trẻ càng nhỏ càng dễ tái phát, tiền sử gia đình có sốt cao co giật, sốt xảy ra ngắn đã co giật hay sốt chưa cao đã co giật. 

Ở những trẻ đã có bệnh động kinh đang điều trị, sốt cũng là một yếu tố làm cơn giật tái diễn, do đó ngoài việc tránh cho trẻ không bị sốt thì cha mẹ cần cho trẻ dùng thuốc kháng động kinh theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc. Có thể dùng cho trẻ thuốc hạ sốt paracetamol và aspirin xen kẽ nhau với liều phù hợp lứa tuổi, mặt khác cần điều trị nguyên nhân gây sốt. 

Trên thực tế, việc kiểm soát chặt chẽ thân nhiệt không dễ dàng vì nhiệt độ có thể tăng lên rất nhanh. Do đó, trong một số trường hợp nếu trẻ xuất hiện hai hay nhiều cơn co giật khi sốt cao, có thể cho trẻ uống thuốc chống co giật trong thời gian từ 18 - 24 tháng. Thuốc hay được sử dụng là: valproate de sodium (depakine) hoặc phenobarbital (gardenal). 

Những lưu ý khi dùng thuốc 

Paracetamol: Được chỉ định dùng rộng rãi khi có các triệu chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa. Dù không độc với liều điều trị, nhưng paracetamol dùng liều cao, dài ngày lại rất nguy hiểm cho chức năng gan. Đặc biệt, nếu dùng thuốc kết hợp với một số thuốc chống co giật như phenytoin, barbiturat hoặc carbamazepin thì có thể làm tăng tính độc hại của thuốc lên gan. 

Không được dùng paracetamol quá 10 ngày ở người lớn hoặc quá 5 ngày ở trẻ em (trừ khi có chỉ định của bác sĩ). Để giảm nguy cơ quá liều, không nên cho trẻ em dùng quá 5 liều/24 giờ và phải tuân thủ liều dùng chặt chẽ theo cân nặng hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ. 


Aspirin: là một dẫn xuất của acid salicylic, thuộc nhóm thuốc chống viên non steroid. Thuốc cũng có tác dụng giảm đau, hạ sốt và chống viêm. Tuy nhiên, thuốc có tác dụng không mong muốn phổ biến trên hệ tiêu hóa, thần kinh và cơ chế đông máu. 

Trên hệ tiêu hóa, thuốc gây buồn nôn, khó tiêu, khó chịu vùng thượng vị, ợ nóng và thậm chí là loét dạ dày - ruột. Còn trên hệ thần kinh trung ương, thuốc gây mệt mỏi, yếu cơ. Thuốc gây khó cầm máu, chảy máu ẩn, thời gian chảy máu kéo dài dẫn đến thiếu máu. Ngoài ra, thuốc còn gây độc trên cả gan và thận. 

Tuy nhiên, các tác dụng phụ này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian sử dụng. Do đó cần tuân thủ chặt chẽ theo chỉ định của bác sĩ, đồng thời cần thông báo cho bác sĩ biết các loại thuốc đang dùng để tránh tương tác thuốc. Đối với trẻ em, khi dùng aspirin đã gây ra một số trường hợp hội chứng Reye, nên thuốc chỉ được sử dụng ở một số trường hợp đặc biệt. 

Valproate de sodium (depakine): là một loại thuốc chống động kinh, có tác dụng chủ yếu trên hệ thống thần kinh trung ương. Tuy nhiên, thuốc cũng được chỉ định trong cơn co giật do sốt cao ở trẻ em, đặc biệt là ở trẻ có nguy cơ tái phát cao và đã có ít nhất một cơn co giật. 

Các tác dụng không mong muốn khác như buồn ngủ, lú lẫn (hiếm gặp), rối loạn tiêu hóa gặp trong giai đoạn đầu của điều trị (hạn chế bằng tăng liều dần); tăng cân do ăn ngon miệng; giảm tiểu cầu (mức độ nhẹ); tăng nhẹ men gan; dị ứng da (hiếm); viêm gan hủy hoại tế bào gan rất nặng nhưng không liên quan đến liều lượng, thường xuất hiện trong 6 tháng đầu của điều trị, hay gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi dùng đa trị liệu (phối hợp nhiều loại thuốc). 

Thuốc đặc biệt gây độc cho gan nên chống chỉ định với các trường hợp có viêm gan cấp hoặc mạn; tiền sử gia đình có mắc viêm gan mạn (nhất là viêm gan do thuốc). Trong đa số trường hợp, các tổn thương gan thường gặp trong vòng 6 tháng đầu điều trị. Do vậy, trong thời gian này, cần theo dõi chức năng gan định kỳ hoặc khi có các dấu hiệu như mệt nhọc, chán ăn, ủ rũ, nôn mửa, đau bụng... Cần uống trước bữa ăn, uống vào giờ nhất định, tránh quên hoặc bỏ thuốc đột ngột. 

Phenobarbital (gardenal): là thuốc chống co giật, an thần và gây ngủ thuộc nhóm barbiturate. Thuốc cũng được chỉ định để phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ. Tác dụng không mong muốn bao gồm ngủ gà, rối loạn chức năng nhận thức, kích động ở trẻ em, còi xương và nhuyễn xương (do thoái dáng vitamin D); nhiễm độc da. 


Click đọc ngay…

Sử dụng thuốc ho đúng cách cho người cao tuổi

10:37 |
Ho là một triệu chứng mà người cao tuổi hay gặp, họ thường đến gặp thầy thuốc với dáng vẻ thiểu não do ho làm trầm trọng thêm tình trạng mất ngủ, làm cho bệnh mạn tính nặng hơn và nhiều khi làm cho họ không kiểm soát được tiểu tiện. Do đó, giảm và chấm dứt cơn ho là yêu cầu cần thiết giúp người cao tuổi tránh được nỗi lo lắng, bất an. 

Có nhiều nguyên nhân gây ra ho. Đối với mỗi nguyên nhân thì cách sử dụng thuốc cũng khác nhau nhưng có một nguyên tắc chung là dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây ho và không nên dùng thuốc làm ngắt cơn ho. 

Dưới đây là một số nguyên nhân gây 


Ho do nhiễm khuẩn 

Trước hết phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị nguyên nhân gây ho. 

Ở người cao tuổi, do sức đề kháng đã giảm, mức độ hấp thu thuốc kháng sinh, việc thải độc qua gan thận cũng giảm theo, nhất là các loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm amynoglycoside, sulfamide (co-trimoxazol)... Bên cạnh đó, chức năng thận suy giảm làm cho kháng sinh dễ gây độc cho gan nên cần phải giảm liều. 

Từ những lưu ý như vậy nên khi được chẩn đoán ho do nhiễm khuẩn trong các bệnh viêm mũi xoang, viêm họng, viêm phế quản... thì người cao tuổi cần phải được sử dụng kháng sinh sớm. Nhóm kháng sinh được lựa chọn an toàn nhất là nhóm beta lactam. 

Nếu cần phối hợp thuốc, phải cân nhắc tính đối kháng hay tính hiệp đồng của thuốc. Nắm vững cơ địa, tiền sử bệnh và các thuốc đang sử dụng của người bệnh. Ngoài ra, đối với người bị ho do viêm phế quản mạn tính thì cần cân nhắc sử dụng thuốc long đờm nhằm tạo điều kiện để phản xạ ho tống chất tiết ra ngoài làm thông đường dẫn khí. 

Nếu chất tiết ít nhưng đặc khó tống ra ngoài thì dùng thuốc làm loãng chất tiết như natri benzoat, terpinhydrat. Nếu chất tiết nhiều và đặc, việc làm loãng sẽ tăng thể tích gây khó khăn cho việc thông khí thì dùng các chất khử chứa lưu huỳnh như acetylstein, carboxystein. 

Có thể dùng thuốc làm giảm ho nhưng với liều thích hợp chứ không vì muốn hết ho ngay mà dùng liều quá cao, vì liều quá cao sẽ làm mất hết phản xạ ho, nghĩa là làm cho việc tống chất tiết bị trở ngại. Sử dụng thuốc kháng viêm để tránh tình trạng thông khí bị trở ngại. Có thể dùng corticoid uống, xông hay hít nhưng phải tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ vì thuốc có thể gây tác dụng phụ toàn thân. 

Trong một số trường hợp cần thiết, người bệnh còn được sử dụng thuốc chống tắc nghẽn phế quản làm giãn phế quản nhằm giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí như theophylin, các thuốc chủ vận beta 2 (loại tác dụng ngắn như salbutamol, terbutalin, fenoterol và loại có tác dụng dài như salmeterol, formoterol).

Ho do thuốc điều trị tăng huyết áp 

Đối với người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp, việc sử dụng thuốc, nhất là coversyl để hạ huyết áp có thể gây ho do kích ứng niêm mạc. Thực tế cho thấy, hiện tượng ho khan thành cơn khi sử dụng coversyl chiếm tới 1/3 số người sử dụng thuốc. Việc điều trị cắt cơn ho sẽ khó khăn nếu không phát hiện ra nguyên nhân này, có bệnh nhân đã phải chịu đựng cơn ho tới hàng năm. 

Trong các trường hợp này, biện pháp xử trí tốt nhất là phải đổi thuốc điều trị huyết áp kết hợp với sử dụng thuốc ức chế cơn ho và chống dị ứng trong giai đoạn đầu. Thuốc ức chế cơn ho có codein có tác dụng giảm ho do tác dụng ức chế trung tâm hô hấp. 

Cần lưu ý khi sử dụng thuốc ho cho người cao tuổi

Sau khi uống, tác dụng giảm ho xuất hiện trong vòng 1 - 2 giờ và có thể kéo dài 4 - 6 giờ. Codein được chuyển hóa ở gan và thải trừ ở thận dưới dạng tự do hoặc kết hợp với acid glucuronic. 

Ở liều điều trị codein ít gây co thắt mật và gây nghiện hơn so với morphin. Tuy nhiên không sử dụng thuốc này cho người có tiền sử hen phế quản, COPD - tâm phế mãn ở người cao tuổi. Ngoài ra, cần sử dụng thêm thuốc kháng histamin H1. Loại thuốc này được hấp thu nhanh sau khi uống và đều có chuyển hóa trong gan. Do thời gian bán thải ở người cao tuổi kéo dài hơn nên thường phải giảm liều và sử dụng trong thời gian ngắn. 

Ho do trào ngược dạ dày - thực quản 

Ho do trào ngược dạ dày - thực quản xảy ra khi cơ vòng thực quản bất thường, không khép kín hẳn sau khi thức ăn đã xuống dạ dày và làm dịch chứa acid chảy ngược từ dạ dày lên trên thực quản, đi đến họng, gây kích thích phản xạ thực quản - khí quản - phế quản và gây ho. 

Để điều trị chứng ho này cho người bệnh, bác sĩ thường sử dụng thuốc kháng histamin H2 như: cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin. Chúng ức chế cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 ở tế bào thành dạ dày, nên ức chế bài tiết cả dịch acid cơ bản (khi đói) và dịch acid do kích thích (bởi thức ăn, histamin, cafein, insulin...). 

Các thuốc nhóm này có tác dụng làm liền các vết loét dạ dày và tá tràng, làm giảm bệnh trào ngược dạ dày - thực quản, từng bước giảm và ngắt cơn ho. 

Ho do các khối u của đường thở hoặc chèn ép đường thở 

Loại ho do bệnh lý này thường giảm khi dùng thuốc ức chế cơn ho nhưng không bao giờ hết triệu chứng, do đó phải kết hợp với loại bỏ khối u nếu có thể. 


TS.BS. Phạm Bích Đào
Xem thêm thông tin bạn cần:

>>> Thuốc chữa ho thường dùng

>>> Nguyên nhân ho kéo dài ở người cao tuổi


Click đọc ngay…

Thuốc điều trị gây hôi miệng

10:53 |
Thông thường, khi sử dụng dược phẩm và phát hiện rằng hơi thở của mình có mùi lạ thì người sử dụng lại nghĩ rằng họ đã có vấn đề gì đó ở trong mũi, miệng, cuống họng, răng... chứ không biết rằng hơi thở “lạ” là do chính dược phẩm mà họ đang sử dụng gây ra. 

Thuốc nào cũng có hai mặt tác dụng. Một mặt có tác dụng trị liệu thì mặt kia lại có những tác dụng phụ. Trong những tác dụng phụ thì có một “món” rất dễ “mích lòng” vì không những gây khó chịu cho mình mà còn gây khó chịu cho người. Đó là tác dụng phụ gây ra hơi thở... dễ xa nhau khi sử dụng một số loại dược phẩm. 


Những “thủ phạm” gây hôi miệng 

Nguyên nhân gây hôi miệng phổ biến nhất khi sử dụng dược phẩm chính là do dược phẩm làm khô miệng (xerostomia). Có rất nhiều dược phẩm có tác dụng phụ làm giảm sự tiết nước bọt gây ra khô miệng. Do nước bọt có tính acid nhẹ nên có thể giảm đi số lượng các loại vi khuẩn gây hôi miệng. Khi thiếu nước bọt cũng như “vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”, vi khuẩn gây hôi miệng thừa nước đục thả câu, quậy tới bến. Nước miếng cũng có tác dụng ôxy hóa miệng, làm cho hơi thở được trong lành một cách tự nhiên. 

Những người thường xuyên hút thuốc lá cũng bị chứng khô miệng. Những dược phẩm thường gây khô miệng nhất là các thuốc kháng histamine, vì loại dược phẩm này sẽ “cấm vận” một số receptor tới não. Một số chế phẩm không cần toa bác sĩ có chứa cồn và hàm lượng cao đường sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở. 

Chất cồn làm khô miệng, chất đường làm thức ăn nuôi vi khuẩn và làm hơi thở càng có mùi khó chịu hơn. Thật là không may, trong khi uống rượu nhiều gây khô miệng và hôi miệng thì các loại thuốc trị nghiện rượu cũng sẽ gây hôi miệng, chẳng hạn một loại thuốc chống co giật là paraldehyde được dùng để trị nghiện rượu sẽ gây hôi miệng, hoặc là disulfiram cũng gây hơi thở có mùi khó chịu vì trong dược phẩm này chứa nhiều sulfur. 

Một vài loại thuốc không cần toa bác sĩ khác dùng trong việc trị chứng trào ngược acid có chứa dimethyl sulfate do có chứa sulfur nên những loại dược phẩm có chứa dimethyl sulphate sẵn sàng gây hôi miệng cho người dùng. 

Những loại dược phẩm khác gây khô miệng dẫn tới hôi miệng bao gồm các thuốc kháng trầm cảm, thuốc trị cao huyết áp, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau loại narcotics, thuốc lợi tiểu, thuốc chống lo âu. Với một “rừng” dược phẩm như hiện nay, từ loại thuốc phải kê toa tới các loại thuốc không cần kê toa, dược thảo... sẽ thật khó khăn cho người sử dụng nắm được các tác dụng phụ, vì vậy giải pháp tốt nhất chính là bác sĩ và dược sĩ - là những người sẽ tư vấn cho người sử dụng dược phẩm một cách an toàn và hiệu quả. 

Những thuốc “kinh điển” gây hôi miệng 

Triamterene: Đây là một loại thuốc lợi tiểu dùng trị cao huyết áp và phù thũng, thuốc này có thể làm nước tiểu chuyển sang màu xanh nhạt. 

Paraldehyde: Trị động kinh. Thông thường gan sẽ “rửa ráy” một phần paraldehyde cho máu, tuy nhiên những paraldehyde thoát khỏi gan (khoảng 30%) sẽ ngao du cơ thể rồi “di dân” tới phổi và được bài tiết qua phổi, làm cho bệnh nhân sử dụng loại dược phẩm này có một hơi thở cực kỳ... dễ xa nhau. 

Disulfiram: Trị nghiện rượu nhưng lại gây khô miệng, hôi miệng. 

Antihistamines: Các thuốc kháng histamines sẽ làm giảm sự tiết nước bọt gây khô miệng. 

Nếu bạn sử dụng bất cứ dược phẩm gây khô miệng, tốt nhất là nên giữ miệng đủ độ ướt, chẳng hạn uống nước thường xuyên và tăng lượng nước so với lúc chưa dùng dược phẩm, nhai kẹo cao su không đường nhằm kích thích sự tiết nước bọt, tránh khô miệng. 


Theo DS Nguyễn Bá Huy Cường 
Pháp luật TPHCM
Click đọc ngay…

Thận trọng tăng cân do tác dụng phụ của thuốc

14:37 |
Có khá nhiều thuốc gây tác dụng phụ làm tăng cân. Điều nguy hại là nhiều người đã và đang lạm dụng nó để làm mập. 

Lâu nay ở xứ ta, một số phụ nữ và phụ huynh thường nghe lời đồn đại nên tự ý mua “thuốc làm mập” về dùng hoặc cho con em uống. Thậm chí, một số thầy thuốc còn cố tình chỉ định thuốc loại này dù biết lợi bất cập hại. 

Thuốc chống viêm glucocorticoid 


“Thuốc làm mập” đầu tiên phải kể đến là thuốc chống viêm glucocorticoid, thường được gọi tắt là corticoid. Thuốc corticoid gồm nhiều loại: dexamethason (thường gọi nôm na là “đề xa” hay thuốc “hột dưa”), prednison, prednisolon... 

Về phương diện chữa bệnh, corticoid là thuốc rất quý dùng để chống viêm, trị các bệnh xương khớp, các bệnh tự miễn, các bệnh dị ứng ngoài da và hệ hô hấp (biểu hiện là hen suyễn nặng), bệnh suy tuyến thượng thận; không bao giờ được sử dụng cho mục đích làm tăng cân. 

Do cơ thể có vẻ như mập ra và tăng trọng khi uống thuốc này liên tục, kéo dài mà một số người cứ tưởng là tốt dù thực chất, đây là tác dụng phụ nguy hiểm của thuốc. 

Corticoid có tác dụng giữ nước và chất khoáng natri trong cơ thể, gây rối loạn chuyển hóa lipid và làm đọng mỡ lại ở trên mặt, cổ và lưng nên người dùng thuốc lâu ngày sẽ béo phì, mặt tròn như mặt trăng nhưng thật ra cơ thể lại bị teo cơ (đây là các biểu hiện trong hội chứng có tên là Cushing). 

Corticoid làm tiết nhiều dịch vị ở dạ dày, gây cảm giác đói, ăn ngon nhưng có thể làm loét dạ dày, gây xuất huyết tiêu hóa... Riêng đối với trẻ em, việc dùng corticoid bừa bãi có thể gây ra các tổn thương rất nguy hại và không hồi phục. 

Thuốc trị dị ứng cyproheptadin 

Thuốc thứ hai được dùng làm tăng cân là cyproheptadin (biệt dược peritol, periactine…). Đây là thuốc kháng histamin trị dị ứng nhưng lại có thêm tác dụng kích thích sự thèm ăn. Như vậy, thuốc này không làm tăng trọng một cách trực tiếp do giữ nước, natri lại trong cơ thể và gây phù như corticoid mà có tác dụng gián tiếp trị chứng chán ăn, làm cho người dùng ăn nhiều hơn (đương nhiên phải ăn uống đầy đủ chất) để tăng trọng. 

Khi đang dùng thuốc sẽ kích thích ăn ngon miệng nhưng nếu ngưng thì sẽ chán ăn trở lại. Thuốc này có tác dụng phụ gây buồn ngủ, không được dùng (tức chống chỉ định) đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em dưới 2 tuổi và người cao tuổi suy nhược. Đối với trẻ em, thuốc có thể gây cơn co giật - gọi là tác dụng phụ thần kinh ngoại tháp. 

Thuốc cũng không được dùng ở những người bị tăng nhãn áp, u tuyến tiền liệt, loét tá tràng. Do lợi bất cập hại như vậy nên nhiều nước đã không còn chỉ định dùng cyproheptadin trị chứng chán ăn, trong khi ở ta vẫn còn dùng “tăng cân làm mập” cho phụ nữ và trẻ con. 

Một số thuốc khác cũng có tác dụng phụ làm tăng cân

Ngoài 2 loại kể trên, nhiều thuốc khác cũng có tác dụng làm tăng cân. Cơ chế làm tăng cân của các thuốc này không thật rõ ràng. Có thể do chúng tác động trên trung tâm kiểm soát đói - no ở hệ thần kinh gây cảm giác không no khi ăn hoặc làm tiêu hóa nhanh thức ăn gây mau đói hay làm rối loạn sự chuyển hóa gây sự tích lũy mỡ... 

Tác dụng làm tăng cân của thuốc có thể gây các phản ứng có hại, như: làm rối loạn lipid huyết (tăng mỡ trong máu), tăng huyết áp, tăng nguy cơ bị bệnh đái tháo đường type 2... Có thể kể các thuốc làm tăng cân như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng (amitriptylin, nortriptylin...), thuốc chống loạn thần (olanzapin, risperidon), thuốc trị tăng huyết áp (nhất là thuốc chẹn bêta như atenolol, metoprolol...), thuốc trị động kinh (axít valproic, lithium...), thuốc trị đái tháo đường type 2 (nhất là nhóm sulfonylurea như glyburid, glipizid...). 

Cần lưu ý rằng tác dụng gây tăng cân do thuốc không phải xảy ra cho mọi người (có người không bị tác dụng không mong muốn này). Khi người bệnh bị tăng cân do thuốc, không nên vội bỏ thuốc (vì có khi bệnh tái phát trở nên rất nặng) mà nên báo cho bác sĩ biết để có hướng xử trí. Đã có lời khuyên rằng tập thể dục nhiều hơn có thể khắc phục tình trạng tăng cân do thuốc. 

Xin nhắc lại, cần hết sức tránh lạm dụng tác dụng tăng cân của thuốc để làm mập. Corticoid còn có các tác dụng phụ nguy hiểm khác như làm loãng xương, tăng huyết áp, gây huyết khối làm nghẽn mạch, làm giảm sự đề kháng của cơ thể nên dễ dẫn đến nhiễm trùng. 


PGS-TS-DS Nguyễn Hữu Đức
Theo người lao động
Click đọc ngay…

Có nên dùng thuốc isotretinoine trị mụn kéo dài

10:11 |
Xin chào dược sĩ, mình 24 tuổi, nam, dùng isotretinoine để trị mụn, mỗi ngày 10mg. Mình đã uống được 6 tháng và bây giờ mụn đã hết hẳn. Bác sỹ tiếp tục cho mình uống thêm nhưng liệu mùa này (có nắng nhiều), mình có nên uống tiếp hay không? Vì mình nghe nói phải dừng uống sau liệu trình 6 tháng? 

Bác sĩ trả lời:  


Isotretionin là chất có tác dụng làm giảm tiết bã nhờn, dùng để điều trị trứng cá, trứng cá nặng, sẹo, trứng cá không đáp ứng với thuốc diệt khuẩn toàn thân, dùng ngoài hay trứng cá do vấn đề tâm lý. Thuốc chỉ được sử dụng khi được kê đơn, có kiểm soát và có tư vấn của bác sĩ da liễu, không được tự ý dùng thuốc. 

Liệu trình điều trị thông thường là ít nhất 16 tuần, cũng có tài liệu là 15-20 tuần, có thể dừng điều trị sớm hơn nếu tổng lượng mụn giảm trên 70%. Lặp lại điều trị thường không được yêu cầu , tuy nhiên có thể lặp lại điều trị nếu như tình trạng mụn không được cải thiện và chắc chắn rằng liệu trình thứ hai này lợi ích vượt trội hơn nguy cơ. 

Giữa hai lần điều trị nên cách nhau ít nhất hai tháng để đánh giá tiến triển cũng như sự cần thiết của việc điều trị thêm bởi vì hiệu quả giảm trứng cá có thể tiếp tục xảy ra sau khi dừng thuốc. Do vậy việc bạn đã điều trị sáu tháng và hết mụn mà bác sĩ vẫn cho dùng tiếp một đợt điều trị nữa nên được thảo luận lại về sự cần thiết của đợt điều trị này. 

Nên chú ý các tác dụng không mong muốn sau có thể gặp khi sử dụng thuốc: trên da như da khô, viêm da, mỏng da, ban đỏ, ngứa, mỏng biểu bì, chấn thương có thể gây bỏng rộp, khô môi đôi khi viêm môi. 

Trên mắt: khô mắt, viêm bờ mi và viêm kết mạc, có thể đột ngột giảm tầm nhìn vào buổi tối, ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc. Trên chuyển hóa như tăng triglycerid, cholesterol, tăng men gan. Ngoài ra, thuốc còn có thể gây thiếu máu, khô miệng họng, đau đầu, đau khớp, thay đổi tâm trạng. Đặc biệt thuốc có nguy cơ gây dị tật thai nhi nên phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng hết sức thận trọng. 

Ở đây bạn lo ngại việc dùng thuốc vào mùa này có nắng nhiều. Nó liên quan chính tới tác dụng không mong muốn trên da. Về vấn đề này bạn nên chú ý: tránh nhổ lông, dùng sáp chống rụng tóc vì có thể làm ảnh hưởng tới biểu bì, tránh điều trị bằng laser trong quá trình dúng thuốc và 5-6 tháng sau điều trị do có nguy cơ để lại sẹo, tránh phơi nhiễm với tia UV bao gồm cả ánh nắng mặt trời, nên sử dụng hỗ trợ che chắn, bôi kem chống nắng có SPF ít nhất bằng 15, sử dụng chất làm mềm da trước khi bắt đầu điều trị, các thuốc bôi ngoài da làm bong tróc keratin và tróc da ko nên sử dụng. 

Đã có những báo cáo về phản ứng da nghiêm trọng như hội chứng Steven Johnson(hoại tử hốc tự nhiên trong cơ thể) do đó dùng thuốc mà có dấu hiệu nghiêm trọng bất thường trên da cần dừng ngay. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần chú ý: tránh cho máu trong quá trình điều trị và một tháng sau điều trị, thận trọng với người có tiền sử trầm cảm, kiểm soát tất cả các bệnh nhân trầm cảm, đo chức năng gan và thông số lipid máu trước điều trị, một tháng sau khi bắt đầu và sau mỗi ba tháng vì khi giảm liều hoặc dừng không dùng thuốc nồng độ men gan và lipid máu vẫn có thể tăng.


Đỗ Thị Thanh Hiền - DS Võ Thị Hà
Click đọc ngay…

Lưu ý khi dùng thuốc cảm cúm lúc giao mùa

21:00 |
Các thuốc cảm cúm hiện rất phổ biến trên thị trường, tuy nhiên cần lưu ý các thuốc này chỉ giúp giảm triệu chứng trên người bệnh mà không có tác dụng loại trừ nguyên nhân (virut) hay rút ngắn thời gian mắc bệnh. Ngoài ra, các thuốc cảm cúm có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng nếu không được sử dụng đúng cách. 

Cảm cúm là bệnh cấp tính do virut có khả năng lây lan cao qua đường hô hấp, thường xảy ra vào thời điểm giao mùa. Các triệu chứng của cảm cúm xuất hiện sau 1-3 ngày nhiễm virut bao gồm sốt, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, đau nhức cơ... 


Cảm cúm thông thường không biến chứng sẽ tự hết sau 7-10 ngày nhờ hệ miễn dịch của cơ thể. Mặc dù bệnh dễ mắc dễ khỏi, nhưng cảm cúm có thể khiến nhiều người cảm thấy khó chịu, bị gián đoạn công việc và giảm chất lượng cuộc sống. 

Các thuốc cảm cúm trên thị trường hiện rất đa dạng với nhiều tên biệt dược khác nhau nhưng có thành phần thuộc bốn nhóm chính sau: 

Thuốc hạ sốt, giảm đau: Thành phần hạ sốt, giảm đau trong các thuốc cảm cúm thường được sử dụng là paracetamol. Ở liều bình thường, paracetamol dung nạp tốt và ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, quá liều paracetamol có thể gây độc cho gan. Buồn nôn, nôn và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2-3 giờ sau khi dùng liều độc của thuốc. 

Hoại tử gan phụ thuộc liều là độc tính cấp nghiêm trọng nhất do quá liều paracetamol và có thể gây tử vong. Do đó, người bệnh cần tuân thủ đúng liều dùng và thời gian dùng thuốc. Cần hạn chế uống rượu khi đang dùng paracetamol do rượu làm tăng độc tính trên gan của thuốc. Đặc biệt, người bệnh cần kiểm tra kỹ tờ hướng dẫn sử dụng của các thuốc đang sử dụng để tránh quá liều do sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc cùng chứa paracetamol. 

Thuốc giảm ho: Codein và dextromethorphan là hai thuốc giảm ho thường được sử dụng. Cần lưu ý ho là phản xạ sinh lý giúp làm sạch đường thở, tống xuất đờm, dịch tiết hoặc vật lạ lọt vào đường hô hấp. Các thuốc giảm ho chỉ nên sử dụng trong trường hợp ho khan, ho quá mức gây mệt, nôn ói, mất ngủ. 

Một trong những tác dụng phụ nghiêm trọng của hai thuốc ho này là gây suy hô hấp, đặc biệt trên trẻ nhỏ. Do đó, không dùng thuốc cho trẻ nhỏ và thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh ho nhiều đờm, người bị hen hoặc suy giảm hô hấp... 

Việc dùng thuốc liều cao kéo dài có thể gây phụ thuộc thuốc nên cần tuân thủ đúng liều dùng và thời gian dùng thuốc. Ngoài ra, chống chỉ định codein cho phụ nữ cho con bú khi người mẹ nghi ngờ hoặc được xác định thuộc nhóm người có chuyển hóa codein cực nhanh thành morphin vì có thể gây tử vong cho trẻ bú mẹ do nhiễm độc morphin. 

Thuốc chống sung huyết, ngạt mũi: Các thuốc co mạch trị sung huyết, ngạt mũi: pseudoephedrin, phenylephrin, naphazolin, xylometazolin, oxymetazolin có dạng uống và dạng nhỏ, xịt mũi. 

Thuốc gây co mạch dẫn đến làm giảm lưu lượng máu và làm giảm sung huyết mũi. Tuy nhiên, khi dùng thuốc quá liều hoặc trên người bệnh nhạy cảm, đặc biệt trẻ em, thuốc có thể gây co mạch toàn thân dẫn đến tím tái, vã mồ hôi, choáng, tăng huyết áp, hồi hộp, chóng mặt, đánh trống ngực... Do đó, đặc biệt thận trọng khi dùng thuốc cho trẻ nhỏ, người bị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, người bị hen, suy thận, đái tháo đường hoặc cường giáp... 

Cần ngừng ngay thuốc nếu phản ứng phụ xảy ra. Ngoài ra, các thuốc co mạch dạng nhỏ, xịt mũi dùng lâu ngày có thể gây hiện tượng “bật lại” (rebound) tức là lúc đầu làm hết sổ mũi, nghẹt mũi nhưng sau đó gây nghẹt mũi trở lại do thuốc làm giảm tính đàn hồi của mạch máu trong niêm mạc mũi và làm tổn thương hệ thống màng nhầy - lông chuyển trong mũi. Do đó, người bệnh cần tuân thủ khuyến cáo về liều dùng và thời gian dùng thuốc (một đợt điều trị không kéo dài quá 5 ngày). 

Thuốc cảm cúm có thể gây nhiều tác dụng phụ bất lợi

Thuốc chống dị ứng: Các thuốc thuộc nhóm này clopheniramin, loratadin, diphenhydramin, triprolidin có tác dụng giảm nhẹ các triệu chứng viêm mũi, nghẹt mũi và ho do dị ứng. 

Một số trường hợp không được dùng các thuốc nhóm này bao gồm trẻ nhỏ, người bệnh glocom góc đóng, phì đại tuyến tiền liệt, hẹp môn vị... Thuốc có thể gây ngủ gà, chóng mặt, nhìn mờ và suy giảm tâm thần vận động nên cần tránh dùng cho người làm các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo như lái xe hoặc điều khiển máy móc... Người bệnh cần hạn chế uống rượu khi đang dùng thuốc vì rượu làm tăng tác dụng an thần của thuốc. 

Cần lưu ý, không dùng kháng sinh khi bị cảm cúm do virut. Kháng sinh chỉ được sử dụng trong một số trường hợp người bệnh cảm cúm bị bội nhiễm vi khuẩn. Khi được chỉ định kháng sinh, người bệnh cần lưu ý không bỏ liều thuốc và uống hết lượng thuốc được kê kể cả trong trường hợp cảm thấy khỏe hơn sau một vài ngày. 

Khi bị cảm cúm, người bệnh có thể áp dụng một số biện pháp không dùng thuốc để hỗ trợ đẩy lùi bệnh như nghỉ ngơi, bổ sung đầy đủ nước, đảm bảo dinh dưỡng (tăng cường một số loại thực phẩm như tỏi, hành, gừng, tía tô, chanh, mật ong...), hạn chế tiếp xúc để tránh lây lan bệnh. 

Đặc biệt, cảm cúm có thể chủ động phòng tránh bằng cách thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, tránh đến chỗ đông người khi có dịch, ăn uống đủ chất và tiêm vắc-xin phòng bệnh. 


DS. Trần Thúy Ngần
Click đọc ngay…

Sử dụng thuốc hạ sốt tại nhà an toàn hiệu quả

20:30 |
Lên cơn sốt cao sẽ làm rối loạn sinh lý của nhiều cơ quan, hệ thống, phải dùng thuốc hạ sốt. Đó là các yêu cầu cấp bách trong các tình huống gia đình. Tuy là loại thuốc thông thường có thể tự sử dụng nhưng đặc biệt cần lưu ý khi phải dùng thuốc cho trẻ nhỏ và người cao tuổi. 

Chọn thuốc hạ sốt loại nào? 

Trước hết, trong các thuốc cần chuẩn bị trong tủ thuốc gia đình, thuốc hạ sốt là thuốc đầu bảng bạn cần phải dự trữ. 

Thuốc hạ sốt dễ mua, dễ dùng và tương đối an toàn

Có hai lý do: sốt là một phản ứng cấp tính dễ dàng gây ra biến chứng với trẻ em và người già. Vì thế chúng ta cần khẩn trương hạ sốt ngay khi có nguy cơ sốt sẽ lên quá cao. Lý do nữa đó là thuốc hạ sốt lại tương đối an toàn và dễ dùng, có thể tự dùng tại nhà mà ít khi gây ra những phản ứng đặc biệt nghiêm trọng. Nên bạn rất cần thiết chuẩn bị thuốc này sẵn sàng để dùng khi cần. 

Thuốc hạ sốt trên thị trường rất nhiều loại với các dạng khác nhau. Câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ lựa chọn loại nào. Trong các tình huống thông thường, khuyên bạn nên chọn paracetamol (còn gọi là acetaminophen). Trên thị trường còn một loại thuốc hạ sốt nữa là aspirin nhưng loại này khó dùng hơn và có một số đối tượng chống chỉ định. Vì thế, tốt nhất bạn nên chọn paracetamol. 

Ưu điểm của loại này: tác dụng nhanh, an toàn, ít có biến chứng, hiệu lực hạ sốt mạnh và dễ sử dụng. 

Cách mua thuốc hạ sốt

Khi mua thuốc, bạn thường được dược sĩ giới thiệu nhiều loại để bạn lựa chọn cho cùng một loại thuốc paracetamol. Chung quy lại có một số loại sau đây: 

Loại paracetamol đơn thuần: Loại này chỉ có tác dụng hạ sốt và kháng viêm nhẹ, có tác dụng hạ sốt rất mạnh, thích hợp dùng hạ sốt cho trẻ bị sốt do mọc răng, sốt phát ban, sốt virut. Người bán thuốc hay gọi là efferalgan xanh. 

Loại có kết hợp với codein: Loại này vừa có tác dụng hạ sốt, vừa có tác dụng chống đau đầu, thích hợp với người lớn bị sốt do bị nhiễm virut, sốt có kèm theo đau đầu, đau mỏi cơ khớp. Người bán thuốc hay gọi là effralgan đỏ. 

Loại có kết hợp với chlorpheniramine: Loại này thích hợp với các loại sốt do cúm, do viêm họng, viêm đường hô hấp. 

Thuốc hạ sốt dạng viên nén: thích hợp với người lớn và người già, loại dạng gói bột, viên đạn, cao dán thích hợp với trẻ em. Như vậy, tùy thuộc vào gia đình bạn có những thành viên nào mà chúng ta lựa chọn dạng thuốc dùng cho phù hợp. 

Nếu nhà bạn chỉ toàn người lớn: bạn nên mua efferalgan xanh và đỏ. Tùy từng trường hợp mà dùng cho thích hợp. Dạng này bào chế với hàm lượng 500mg. Bạn có thể mua mỗi thứ 1 vỉ, gồm 4 viên. 

Nếu nhà bạn có trẻ em: bạn nên mua thêm hai loại khác, bao gồm: thuốc dạng gói bột có hương vị cam, chanh, dâu... (hoặc cao dán) và dạng viên đạn. Khi trẻ có thể uống được thì pha gói cho trẻ uống. Ở dạng này thuốc sẽ được hấp thu tốt hơn, đỡ phải dùng liều cao hơn. 

Còn nếu trẻ sốt li bì, không uống được, hay nôn trớ, bạn có thể dùng cao dán hoặc dùng viên đạn nhét hậu môn. Dùng viên đạn là đơn giản nhất. 

Lưu ý, thuốc dùng cho trẻ em lúc này dùng theo dạng hàm lượng chi tiết cụ thể. Dạng gói bột được bào chế dưới hai hàm lượng: 80mg và 250mg. Dạng 80mg dùng cho trẻ em có cân nặng từ 5-12kg, tức là từ khi sinh đến khoảng 1 tuổi. Dạng 250mg dùng cho trẻ từ 13-50kg, tức là trẻ từ 2 - 15 tuổi. 

Dạng viên đạn được bào chế với 3 hàm lượng: 80mg, 150mg và 300mg. Dạng 80mg dùng cho trẻ từ 4-6kg, tức là trẻ từ 1-5 tháng tuổi. Dạng 150mg dùng cho trẻ có cân nặng từ 7-12kg, tức là từ 6 tháng-1 tuổi. Dạng viên đạn 300mg dùng cho trẻ từ 13-24kg, tức là trẻ từ 2-9 tuổi. 

Đo nhiệt độ thường xuyên khi bị sốt đề phòng biến chứng

Cách dùng thuốc hạ sốt tại nhà an toàn

Cách dùng rất đơn giản nhưng phải tuân theo các quy tắc chặt chẽ như sau: Khi trong gia đình có người sốt từ 39 doC thì bạn đã có thể cho dùng thuốc hạ sốt. 

Với trẻ em khi sốt trên 38,5 doC thì bạn nên dùng ngay vì tốc độ sốt của trẻ đến 39doC, 40doC là rất nhanh. Đây là hai ngưỡng nhiệt độ nguy hiểm. Thông thường, cách dùng đơn giản với cả người lớn và trẻ em. Với người lớn thì nên dùng liều 2-3 lần/ngày. Mỗi lần 1 viên. Với trẻ em thì nên dùng 3-4 lần/ngày. Mỗi lần dùng một gói hoặc một viên đạn. 

Không được dùng liên tiếp các liều trong vòng dưới 4 tiếng đồng hồ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt. Một số trường hợp đặc biệt đó là thuốc không có tác dụng hạ sốt. Vậy làm thế nào để nhận ra điều này. 

Trước khi uống thuốc, bạn đo nhiệt độ một lần, đo bằng nhiệt kế thủy ngân, sau đó cho uống thuốc. Nếu sau 30 phút nhiệt độ không giảm có thể cho uống tiếp liều thứ 2. Nếu lần này sốt vẫn không hạ, bạn cần cho đi viện ngay. Không dùng một ngày quá 6 liều quy định liên tiếp. 

Các trường hợp cần phải cho đi viện: sốt kéo dài quá 3 ngày, sốt mà dùng thuốc không hạ sốt, sốt quá cao, 40-410C (vừa phải cho dùng thuốc vừa cho đi viện ngay) sốt, có dùng thuốc nhưng bị dị ứng. 

Đặc biệt cần lưu ý không dùng thuốc nếu thấy dị ứng, không dùng thuốc với người bị bệnh viêm gan, trẻ em bị bệnh viêm gan vàng da do tắc mật. Các trường hợp này cấm dùng thuốc tại gia. Khi đó, có sốt, phải đưa đi bệnh viện và điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ. 


BS. Yên Lâm Phúc
Click đọc ngay…

Thuốc chữa rối loạn tiêu hóa do ăn uống

14:28 |
Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng rất thường gặp. Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh thường có biểu hiện như đau bụng, đầy bụng khó tiêu, đi phân lỏng hoặc tiêu chảy... Vậy việc dùng thuốc trong các trường hợp này như thế nào? 

Đầy bụng khó tiêu 

Đầy bụng khó tiêu là cảm giác đầy trướng bụng, tức bụng, ậm ạch khó chịu, thường xảy ra sau khi ăn nhưng cũng có khi suốt ngày và tăng lên sau khi ăn. Nguyên nhân là do có sự tích khí trong đường tiêu hóa, do tiêu hóa không tốt, thức ăn bị ứ đọng ở dạ dày. 


Khi bị cảm giác này có thể dùng gừng giã nhỏ lấy nước hoà với nước ấm sẽ giúp giảm triệu chứng này. Ngoài ra có thể dùng một số thuốc sau, nhưng cũng chỉ dùng trong khoảng 5-7 ngày, nếu tình trạng không được cải thiện cần đi khám bệnh: 

Maalox: Được dùng khi bị chứng khó tiêu đầy bụng kèm theo ợ chua do thừa axit dịch vị. Thuốc có tác dụng kháng axit dịch vị, bảo vệ niêm mạc thực quản, niêm mạc dạ dày tá tràng, điều trị chứng đầy bụng chậm tiêu. Dùng thuốc sau ăn từ 30 - 60 phút. 

Domperidon: Dùng khi sự co bóp dạ dày kém đưa đến sự chuyển đẩy thức ăn từ dạ dày xuống ruột chậm. Thuốc có tác dụng điều hòa nhu động dạ dày - ruột, trị các chứng đầy bụng, buồn nôn. Không dùng thuốc cho người có tiền sử chảy máu dạ dày - ruột, nghẽn ruột, phụ nữ có thai. 

Neopeptine: Đây là men tiêu hoá sẽ giúp thức ăn tiêu hoá dễ dàng hơn giảm cảm giác đầy bụng chướng hơi. 

Phân lỏng hoặc tiêu chảy 

Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh có thể đi ngoài phân lỏng, thậm chí nhiều nước (tiêu chảy). Nếu đi phân lỏng có thể dùng berberin (được chiết xuất từ cây hoàng đằng). Thuốc này được xem là một loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột, được chỉ định trong hội chứng lỵ do trực khuẩn, viêm ruột, tiêu chảy... Ngoài ra, berberin còn có tác dụng làm tăng tiết mật, giúp tiêu hóa tốt. 

Nếu tiêu chảy, việc đầu tiên cần bù nước và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol (cần pha đúng tỷ lệ theo hướng dẫn trên bao bì/nhãn của sản phẩm). Trong trường hợp không có sẵn oresol có thể thay bằng nước cháo muối hoặc đường muối pha 1 thìa cà phê muối với 8 thìa đường trong 1 lít nước sẽ được dung dịch để uống khi bị tiêu chảy. 

Không được dùng thuốc để cầm tiêu chảy, vì trong trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, chất độc, dùng thuốc cầm ngay tiêu chảy không có lợi, cơ thể cần tiêu chảy để tống chất độc ra khỏi cơ thể. Chỉ khi tiêu chảy không khu trú, kéo dài mới tính tới chuyện dùng thuốc cầm tiêu chảy như loperamid (tốt nhất là dùng theo chỉ định của bác sĩ). 

Khi bị tiêu chảy nặng hoặc tiêu chảy hơn 3 ngày cần đi khám bệnh để được xử lý kịp thời, thích hợp. 


DS. Hoàng Thu Thủy
Click đọc ngay…

Những bất lợi thường gặp trên đường tiêu hóa do thuốc

09:40 |
Khi uống thuốc, cơ quan tiêu hóa là nơi thường phải “chịu trận” tác dụng phụ và các phản ứng sinh hóa của thuốc. Các tác dụng không mong muốn do thuốc để lại độc tính cao trên đường tiêu hóa dễ xảy ra ngay cả khi dùng các thuốc thông thường. 

Có nhiều mức độ ảnh hưởng trên hệ tiêu hóa do thuốc (thậm chí nguy hiểm), nhưng bài viết này chỉ đề cập những phản ứng thường gặp nhất để mọi người dễ nhận biết. 

Buồn nôn, đầy hơi trướng bụng do thuốc 

Thuốc gây nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa

Đôi khi việc dùng thuốc lại là một thủ phạm gây chứng đầy hơi, trướng bụng khó tiêu, với các biểu hiện như: ợ hơi nhiều lần, ợ chua, đau bụng âm ỉ, có lúc buồn nôn hoặc nôn, bụng trướng, ậm ạch, khó chịu... Cảm giác khó chịu xảy ra mỗi khi ợ hơi và nóng rát vùng họng. Nặng hơn nữa có thể gây ra đau toàn vùng bụng, đau thắt ngực, triệu chứng này nổi bật sau khi ăn. 

Chứng đầy hơi, trướng bụng còn có thể do dùng một số thuốc làm ảnh hưởng đến chức năng sinh lý bình thường của hệ tiêu hóa (dạ dày, ruột), đặc biệt là dùng thuốc trong bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh tăng huyết áp, thuốc chữa bệnh trầm cảm, chữa bệnh xương khớp... 

Buồn nôn là tác dụng phụ thường thấy nhất của thuốc, được đăng tải trong tờ hướng dẫn sử dụng của rất nhiều loại thuốc: thuốc giảm đau chống viêm, kháng sinh, thuốc tránh thai, thuốc chữa viêm khớp (ibuprofen, naproxen, methotrexat...) và đó cũng là lý do khiến bệnh nhân muốn ngưng thuốc. 

Câu hỏi khiến người bệnh trăn trở là tại sao khi uống thuốc lại có cảm giác buồn nôn và nôn? Nguyên nhân là do các phản ứng của thuốc gây ra. Trường hợp kháng sinh erythromycin là một ví dụ. Là một kháng sinh thông dụng, nhưng rất nhiều người bệnh cảm thấy buồn nôn và nôn khi uống erythromycin. Do erythromycin nói riêng và các kháng sinh nhóm macrolid nói chung gây kích thích dạ dày, làm cho dạ dày tăng co bóp và đẩy thức ăn trào ngược lên (gây buồn nôn). Ngoài ra, thuốc còn gây kích ứng dạ dày nên người bệnh còn có cảm giác cồn cào, khó chịu. 

Tiêu chảy do thuốc 

Tiêu chảy là một trong những tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng kháng sinh. Thuốc chữa bệnh gút đặc hiệu là colchicin có độc tính cao trên đường tiêu hóa, có thể làm cho bệnh nhân bị tiêu chảy cấp tính. Các kháng sinh đường uống gây tiêu chảy điển hình là metronidazol, nhóm cephalosporin, spiramycin, tetracyclin, nhóm macrolid... 

Khi kháng sinh tấn công, vi khuẩn bị tiêu diệt dần và chết, xác vi khuẩn đi qua dạ dày sau đó xuống đường ruột và gây các rối loạn tại chỗ. Hơn nữa, kháng sinh sẽ tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh (H. pylori trong dạ dày, salmonella, klebshiella trong ruột...) và tiêu diệt luôn cả vi khuẩn có lợi ở đường ruột, gây mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại sinh sôi nhiều hơn, trong đó có vi khuẩn Clostridium dificile - một loại vi khuẩn gây tiêu chảy. 

Chứng tiêu chảy do thuốc dễ gặp ở trẻ em và người cao tuổi, độ tuổi dễ mắc bệnh phải thường xuyên dùng thuốc chữa bệnh. 

Nên tham khảo ý kiến bác sĩ khi gặp các bất lợi do thuốc

Thuốc gây viêm loét, xuất huyết dạ dày 

Các thuốc gây hại nghiêm trọng hệ tiêu hóa (viêm, loét, chảy máu, và thậm chí là thủng dạ dày, ruột) là thuốc chống viêm không steroid gồm: diclofenac, indomethacin, phenybutazol, ibuprofen, meloxicam, tenoxicam... Các thuốc này được sử dụng khá thông thường, có tác dụng đặc hiệu trong bệnh viêm xương khớp: chống viêm, giảm đau và hạ sốt, nhưng tỷ lệ gây viêm loét và chảy máu tiêu hóa khá cao. 

Là một thuốc quan trọng trong dự phòng và điều trị bệnh loãng xương, nhưng nhóm bisphosphonat cũng gây ra nhiều tác dụng phụ đáng ngại cho tiêu hóa. Cấu trúc hóa học của bisphosphonat rất nhạy cảm với bề mặt dạ dày và thực quản. Rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã báo cáo sau một thời gian sử dụng thuốc bị viêm loét dạ dày thực quản, gây kích ứng, đau. 

Thuốc kích thích tiêu hóa (thường gọi là men tiêu hóa) chiết xuất từ men của dạ dày, tụy, phần lớn là những men phân hủy chất đạm động vật như protease, pepsin, có giá trị cho người bệnh bị viêm dạ dày mạn tính, viêm tụy mạn tính không còn đủ khả năng chế tiết đủ pepsin và protease nữa. Nhưng nó lại là kẻ thù của những người có lớp niêm mạc nhạy cảm. 

Khi dùng quá liều, nó có thể làm tăng nguy cơ viêm loét vì làm tiêu hủy lớp niêm mạc che phủ trong cùng của cơ quan tiêu hóa. Phần bị nặng nhất là dạ dày và lớp niêm mạc. Nếu đối tượng có nguy cơ bị viêm loét thì thuốc này sẽ gây ra viêm loét điển hình. Còn nếu thuốc này được dùng sai chỉ định, tức là dùng cho người đang có viêm loét dạ dày thì sẽ gây ra viêm loét nặng và có thể chảy máu hoặc thủng dạ dày. 

Đổi màu ở phân 

Do sự hiện diện của urobilin và stercobilin - dẫn xuất từ sắc tố mật, nên bình thường phân sẽ có màu nâu nhạt. Khi dùng thuốc, phân sẽ có một số biến đổi về màu như sau: màu đen, xuất hiện sau khi uống thuốc bổ chứa sắt hoặc dùng thuốc có hợp chất bismuth để trị tiêu chảy hoặc viêm loét dạ dày - tá tràng. Hiện tượng này sẽ mất đi khi ngừng dùng thuốc. 

Phân có màu đỏ sau khi uống thuốc pyrvinium pamoat để trị giun sán. Khi người bệnh uống thuốc dithiazanin để trị giun sán phân sẽ có màu xanh lá cây hoặc xanh dương. Các dấu hiệu ở phân không gây hại cơ thể và sẽ mất đi khi bệnh nhân ngưng dùng thuốc, trừ trường hợp có kèm tiêu chảy, thì người bệnh nên đi khám để được tư vấn thêm. 


BS. ĐINH HUỲNH
Click đọc ngay…

Beta Caroten cần thiết cho sức khỏe

20:15 |
Beta caroten là tiền chất của vitamin A, giúp cơ thể phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, ngăn chặn mù lòa, làm lành mạnh hóa hệ miễn dịch... Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách bổ sung cho phù hợp. Beta caroten là tiền chất của vitamin A nhưng nó không chỉ có vai trò như những gì mà vitamin A có. Nó còn sở hữu những hoạt dụng sinh học rộng rãi khác độc lập với loại vitamin này. 


Beta caroten là gì? 

Beta caroten là một tenpen. Nó là một trong hơn 600 loại carotenoid tồn tại trong tự nhiên. Carotenoid là những chất có màu vàng, cam và hơi pha đỏ. Nó có nhiều trong thực vật mà không hề xuất hiện trong động vật cũng như các thực phẩm có nguồn gốc động vật. 

Carotenoid, một số loại được chuyển hoá thành vitamin A trong cơ thể nên đôi khi nó còn được gọi với cái tên quen thuộc hơn là tiền chất của vitamin A trong thực vật. Bởi vitamin A thì chỉ có trong động vật nên đây cũng là một nguồn bổ sung tốt vitamin A cho những người ăn thuần chay. 

Beta caroten tuy là tiền chất của vitamin A nhưng nó không chỉ có vai trò như những gì mà vitamin A có. Nó còn sở hữu những hoạt dụng sinh học rộng rãi khác độc lập với loại vitamin thân thuộc này. 

Tác dụng của beta caroten 

Như đã nói ở trên, nó là tiền chất của vitamin A nên nó là nguồn cung cấp vitamin A tự nhiên, dồi dào cho cơ thể. Vitamin A đóng vai trò cho khả năng của thị giác và sự phát triển của trẻ em nên nó cũng có tác dụng làm mắt thêm sáng, nhìn thêm tinh. Nó tốt cho trẻ em và người cao tuổi. Nó lại còn có chức năng làm lành mạnh hoá hệ miễn dịch nên tốt cho người mới ốm dậy. 

Beta caroten còn làm hết sạch những nguyên tử ôxy tự do đang dư thừa điện tử trong da. Đây là những nguyên tử được hình thành ở da khi da bị phá huỷ bởi tia cực tím. Nó làm da bị lão hoá, nhăn nhúm, thô ráp, xù xì, không khoẻ mạnh. 

Beta caroten làm hết những tác hại này do nó làm hết những gốc điện tử tự do. Nó xứng đáng được thêm vào trong công thức làm đẹp. Bên cạnh đó, beta caroten còn sở hữu trong mình một khả năng chống ôxy hoá ưu việt vì nó có tác dụng khử hết gốc tự do dư thừa trong cơ thể. 

Chúng ta nên nhớ gốc tự do làm hư hỏng màng tế bào nghiêm trọng, nó làm tổn thương các bào quan, nó liên quan chặt chẽ với quá trình lão hoá, xuống cấp của nhan sắc, tuổi trẻ, nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh chưa có lời giải chính thức như ung thư. Vì thế, có beta caroten chúng ta có thể tránh được tất cả những thứ này, bảo vệ màng tế bào, chậm lại lão hoá, ngăn ngừa ung thư. 

Thiếu beta caroten có nguy hiểm không? 

Sự có mặt của beta caroten sẽ giúp phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, do đó ngăn chặn được mù loà ở trẻ. Nhất là những trẻ em được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn chay không sử dụng thực phẩm có nguồn gốc động vật. 

Ở một số công trình nghiên cứu, người ta thấy beta caroten làm vững mạnh hoá một số phản ứng miễn dịch. Vì thế mà khi thiếu hụt hoạt chất này, các phản ứng miễn dịch trở nên kém hoạt hoá. Hoặc khả năng chống nhiễm khuẩn của cơ thể sẽ không còn mạnh nữa. Ví dụ như khả năng làm tăng số lượng tế bào bạch cầu và tăng sức mạnh của tế bào giết tự nhiên. 

Thiếu hụt beta caroten có thể làm cho da của bạn dễ bị tổn thương hơn bởi ánh nắng mặt trời. Vì thế mà trong các mỹ phẩm bảo vệ da, người ta cũng thường xuyên sử dụng beta caroten tự nhiên. 

Một số loại bệnh ung thư như ung thư phổi, ung thư dạ dày sẽ không giảm được nhiều nguy cơ nếu trong chế độ ăn bị thiếu hụt hàm lượng beta caroten. Đó là vì beta caroten làm giảm tổng hợp các dấu ấn ung thư trong chu trình phát triển của các loại ung thư này. Không những thế, nó còn làm giảm nguy cơ của bệnh tim mạch. 


Cần ăn bao nhiêu một ngày? 

Theo những khuyến cáo hiện tại, chúng ta không nên bổ sung lượng beta caroten quá lượng quy định của vitamin A. Liều quy định của vitamin A là 900μg cho nam và 700μg cho nữ. Và liều lượng an toàn của beta caroten tương đương là khoảng 10mg trong một ngày. Còn nếu chúng ta bổ sung beta caroten dưới dạng tự nhiên trong thực phẩm thì chúng ta yên tâm là sẽ không sợ bị quá liều. 

Bổ sung như thế nào? 

Chúng ta có thể bổ sung bằng nhiều cách, thực phẩm tự nhiên hoặc tổng hợp. Nhưng chúng ta nên nhớ, nếu bổ sung quá nhiều beta caroten tổng hợp thì chúng ta sẽ bị chứng tăng beta caroten. 

Biểu hiện của chúng là xuất hiện những điểm vàng ở da như lòng bàn tay, lòng bàn chân, mu chân tay. Màu vàng sẽ mất đi khi sự sử dụng quá liều này được hãm lại hay dừng hẳn. Chúng ta có thể gặp tình trạng này khi chúng ta bổ sung vượt ngưỡng 200mg beta caroten trong một ngày. 

Thực phẩm nào nhiều nhất? 

Chúng ta nên nhớ là beta caroten chỉ xuất hiện trong thực vật nên muốn có nhiều beta caroten thì chúng ta cần tích cực sử dụng rau, củ, quả. Những thực vật mà có màu vàng, cam và những loại rau có lá màu xanh đậm rất giàu beta caroten. Có thể kể ra ở đây một số loại củ quả như bí ngô, cà rốt, khoai lang, xoài, đu đủ, đào. Một số loại rau khuyên dùng như bắp cải, rau diếp, cải xoăn, cải xong, củ cải. Một số thực phẩm khác là đậu Hà Lan, quả anh đào, mận. 

Chỉ có một điều lưu ý, beta caroten được hấp thu chủ yếu ở ruột non. Nó rất cần có sự hỗ trợ của dầu, mỡ hoặc chất béo. Nó cũng cần có sự tham gia của mật nên trong khi bổ sung những thực phẩm này chúng ta nên lưu ý tới những điểm riêng đó. Tốt nhất là chúng ta nên chế biến thành các món xào, nấu có dầu thì lượng beta caroten sẽ được hấp thu tối đa. 


BS. Thu Hiền
Click đọc ngay…

Bổ sung viên sắt cần chú ý đến tác dụng ngược

11:03 |
Phần lớn mọi người tin rằng mệt mỏi và xanh xao là do thiếu sắt và uống bổ sung sắt là cách giải quyết vấn đề từ gốc. Vậy nhưng ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy việc tự bổ sung sắt mà không có chỉ định của bác sĩ sẽ gây ra những hậu quả khó lường. 

Viên sắt - Thuốc bổ sung được ưa chuộng 

Tất cả chúng ta đều cần sắt. Nhiệm vụ chính của sắt là giúp tạo nên hồng cầu để đưa oxy đi khắp nơi trong cơ thể. Thiếu sắt đồng nghĩa với thiếu hồng cầu, từ đó dẫn đến thiếu máu, gây mệt mỏi và khó thở. Thông thường, thiếu máu xảy ra khi lượng dự trữ sắt bị thiếu hụt do chảy máu quá nhiều trong kỳ kinh nguyệt hay do bệnh lý (loét dạ dày)... 


Theo RDI, khuyến cáo ăn uống hàng ngày là 8.7mg sắt đối với nam giới và 14.8mg sắt đối với phụ nữ (để bù lại cho kinh nguyệt). Theo công ty nghiên cứu thị trường Mintel, viên sắt (thông thường chứa 15mg sắt/viên) là một trong những loại thuốc bổ sung được bán nhiều nhất cho phụ nữ Anh. 

Và điều này hoàn toàn không lạ khi các quảng cáo ra rả mỗi ngày rằng sắt có thể giúp hồi phục năng lượng khi cơ thể mệt mỏi. Tuy nhiên, mới đây, các nhà nghiên cứu tại trường Imperial College London đã phát hiện ra rằng uống nhiều sắt bổ sung có thể phá hủy các tế bào trong mạch máu. 

Trước đó, 1 loạt các nghiên cứu trước đó gợi ý rằng việc dùng quá nhiều sắt, đặc biệt là dùng sai loại sắt có thể gây nguy hiểm và là nguyên nhân của nhiều vấn đề về sức khỏe, từ các bệnh tim mạch đến bệnh gút. Sắt được hấp thụ tại ruột và được dự trữ trong các tế bào. Nạp quá nhiều sắt có thể gây thương tổn niêm mạc dạ dày do không được ruột hấp thụ hết. 

“Nhiều hơn 20mg có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe như đau dạ dày hoặc táo bón”, theo Alison Clark, thuộc Hiệp hội ăn uống Anh quốc (British Dietetic Association). 

Nhiều người có cơ thể đặc biệt nên dễ gặp nhiều nguy hiểm hơn. Ví dụ, các bệnh nhân bị rối loạn gen haemochromatosis tích tụ một lượng lớn sắt trong máu, dẫn đến các triệu chứng như đau khớp hoặc cực kỳ mệt mỏi (phương pháp điều trị thông thường là lấy máu ra khỏi cơ thể, tương tự như hiến máu). Vì sắt có hại với tế bào trong thời gian dài, nên nếu bị dư sắt trong cơ thể mà không được chữa trị có thể làm tổn thương gan, tim và tăng nguy cơ ung thư. 

Cơ thể có tự đào thải sắt dư thừa? 

Quan điểm truyền thống cho rằng trong cơ thể chúng ta có khả năng tự điều tiết lượng sắt hấp thụ hàng này. Vậy nên thừa sắt sẽ không gây ra vấn đề gì cho những người khỏe mạnh. Tuy nhiên, 1 vài nghiên cứu mới đây đã dấy lên nghi ngờ về tính xác thực của quan điểm này. 

Trong nghiên cứu mới nhất, xuất bản trong tạp chí Plos One, các nhà khoa học đã công bố kết quả điều trị các tế bào nội mô (lớp phía trong các mạch máu) trong phòng thí nghiệm bằng 1 phương pháp liên quan đến sắt. 

Theo đó, họ cung cấp 1 lượng sắt tương tự như lượng sắt có trong máu của bệnh nhân khi uống viên thuốc sắt, khoảng 65mg. Trong vòng 10 phút, các nhà khoa học nhận thấy cơ chế chữa bệnh của các tế bào được kích hoạt – một chỉ dấu cho thấy đã có tổn thương xảy ra. Điều này có nghĩa là các tế bào trong cơ thể có thể nhạy cảm với sắt hơn rất nhiều so với những gì chúng ta nghĩ trước đây. 

Tiến sỹ Claire Shovlin, 1 trong các tác giả và là chuyên gia y học phân tử và khám bệnh thuộc Imperial, đặt vấn đề: “Trước đây, chúng ta nghĩ rằng liều lượng cần thiết cho các vết thương ở mạch máu cao hơn rất rất nhiều. Nghiên cứu của chúng tôi đặt ra câu hỏi về liều lượng sắt mà chúng ta nên dùng là bao nhiêu?”. 

Nó có hại cho tim không? 

Câu hỏi về tác dụng của sắt được đặt ra từ những năm 80 khi Giáo sư Jerome Sullivan, nhà nghiên cứu bệnh học tại Đại học South Florida bắt đầu nghiên cứu vì sao phụ nữ không có xu hướng đau tim cho đến khi bị mãn kinh, trong khi bệnh này bắt đầu xuất hiện ở nam giới từ độ tuổi 30. Ông cho rằng nguyên nhân là do lượng sắt dự trữ trong cơ thể nữ giới sụt giảm khi kinh nguyệt; nói 1 cách khác, mức độ sắt thấp hơn có thể có tác động bảo vệ với tim. 


Các nghiên cứu cho thấy những người thường lấy máu khỏi cơ thể (những người đi hiến máu…) có sức khỏe tốt hơn so với những người khác đã củng cố giả thuyết này, Tiến sỹ Shovlin nói. Mức độ sắt cao còn dẫn đến nhiều tổn thương hơn tới các cơ tim sau mỗi cơn đau tim. 

Năm 2000, các nhà nghiên cứu tại trường y Kurume ở Nhật đã tiêm một liều lớn sắt vào cơ thể các nam giới khỏe mạnh và nhận thấy dấu hiệu gợi ý rằng thành mạch máu không được giãn ra như cần thiết. Một học thuyết cho rằng dư thừa sắt dẫn đến chứng xơ vữa động mạch – động mạch bị thu hẹp lại do các mảng bám bên trong lòng mạch. Chúng ta thực chất chỉ cần khoảng 1mg sắt mỗi ngày. Tuy nhiên, khuyến cáo ăn uống hàng ngày lại cao hơn thế nhiều bởi chúng ta chỉ có thể hấp thụ được 1/10 lượng sắt mà chúng ta tiêu thụ, 

Tiến sỹ David Das, nhà nghiên cứu về đường ruột và chuyên gia về rối loạn sắt, từng làm việc ở bệnh viện Stepping Hill tại Stockport cho biết. Lượng sắt dư thừa sẽ được bài tiết ra ngoài. “Nếu chúng ta cần nhiều sắt hơn, trong khi mang bầu hoặc vào tuổi dậy thì, cơ thể sẽ hấp thụ nhiều hơn”, ông nói. Chúng ta cũng dự trữ 1 ít sắt trong tế bào để sử dụng sau này, như để thay thế hồng cầu chẳng hạn. Nhưng vì sắt rất độc nên sắt được giữ trong các chất khác, như protein trong gan và máu. 

“Nhưng nếu những protein chứa sắt này đầy, một lượng nhỏ sắt tự do sẽ đi vào máu”, tiến sỹ Das nói, “Điều này dẫn đến tổn thương tế bào, sẹo, các bộ phận trong cơ thể bị suy yếu, thậm chí là ung thư”. Phần lớn giới khoa học cho rằng đây chỉ là vấn đề với những người mắc các rối loạn sắt nhất định. Nhưng 1 vài nhà khoa học hiện nay tin rằng tác hại của sắt tự do có thể xảy ra phổ biến hơn nhiều. 

Xác thực vấn đề này vẫn còn khá khó khăn do các xét nghiệm máu thông thường chỉ đo lượng sắt dự trữ, chứ không đo sắt tự do. Douglas Kell, Giáo sư lĩnh vực phân tích sinh học thuộc trường Đại học Manchester, người đứng đầu bản đánh giá cho 2.000 nghiên cứu về sắt, xuất bản năm 2009, tin rằng sắt tự do có thể liên quan tới 1 số bệnh mãn tính. “Có 1 danh sách dài các loại bệnh, từ Alzheimer đến bệnh xơ cứng thành động mạch, liên quan tới gia tăng lượng sắt tự do trong cơ thể”, ông nói. 

Rau quả giữ sắt trong tầm kiểm soát 

Nằm trong danh sách của giáo sư Kell còn có bệnh viêm khớp mãn tính, là loại bệnh mà hệ thống miễn dịch tấn công các khớp. Các bệnh nhân tuy thường bị thiếu máu nhưng lại có lượng sắt tự do trong dịch khớp cao hơn nhiều so với bình thường. Sắt tự do cũng liên quan đến bệnh thoái hóa điểm vàng, nguyên nhân gây mù lòa ở người già, do 1 lượng lớn sắt tích tụ lại trong võng mạc theo tuổi. 

Giáo sư Kell cũng tin rằng sắt tự do dư thừa có thể dẫn đến đến bệnh gút. Người ta cho rằng axit uric, tích tụ lại trong cơ thể và gây ra các cơn đau của bệnh gút, có thể do thặng dư sắt trong cơ thể - bởi axit uric bám vào sắt tự do. 

Nhưng sắt tự do đến từ đâu? 

Một giả thuyết được đặt ra là do các viêm sưng trong cơ thể, bằng cách nào đó đã giải phóng sắt khỏi nơi dự trữ. Để chữa trị, giáo sư Kell đề xuất 1 nhóm thuốc hấp thụ sắt, thường được dùng nhiều hơn trong điều trị cho các bệnh nhân hấp thụ quá nhiều sắt. Nhóm thuốc này bám vào sắt tự do và ngăn chúng khỏi các hoạt động phá hoại. 

Chế độ ăn hợp lý cũng có thể giúp chữa bệnh. Nhiều hợp chất trong thức ăn, như các chất chống ôxy hóa trong rau quả là các chất hấp thụ sắt tự nhiên. Điều này có thể giải thích tại sao các chất chống oxy hóa trong trà xanh, quả việt quất… lại có lợi cho sức khỏe. Giáo sư Kell nói: “Nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe là những chất có khả năng bám sắt tự do”. 

Có nên lo lắng về đơn thuốc sắt đang được kê? 

Tiến sỹ Shovlin nhấn mạnh rằng không nên ngừng uống thuốc sắt được kê đơn bởi bác sỹ. “Rất nhiều người cần có thêm sắt”, bà nói. Tuy nhiên, liều lượng tiêu chuẩn có thể đang nằm ở mức quá cao đối với 1 số người. 

“Có 1 số người, các bệnh nhân thận chẳng hạn, không thể hấp thụ sắt tốt, do đó họ được khuyên dùng các liều sắt cao. Tuy nhiên nhiều người được kê đơn bổ sung sắt, do sinh con hoặc ra máu nhiều trong kỳ kinh nguyệt, gặp ít vấn đề hơn trong hấp thụ sắt nên có thể uống các liều sắt thấp hơn mà không vấn đề gì. Chúng ta nên tiến hành các thực nghiệm trên người khỏe mạnh để xem lượng sắt mà họ cần là bao nhiêu”, theo Tiến sỹ Shovlin. 

Khi điều trị các bệnh nhân thiếu máu, Tiến sỹ Shovlin thường kê 1 liều vừa phải “nằm trong khoảng giữa 1 liều bổ trợ bình thường (14mg) và liều kê trên đơn thước thông thường (65mg)”. 

Ăn thịt bò, không cần uống thuốc bổ trợ 


Tiến sỹ Das thường tránh kê các liều thuốc bổ sung sắt vì với ông, điều quan trọng hơn cả là tìm ra nguyên nhân thiếu sắt. “Quan điểm cá nhân của tôi là, nếu người nào đó thiếu sắt, phương pháp điều trị tốt nhất là ăn thịt đỏ (1 miếng thịt bò hơn 200 gram chứa khoảng 6mg sắt) - tôi luôn cố gắng bằng cách này trước. Bởi vì loại sắt trong thịt đỏ, sắt hem, rất dễ hấp thụ bởi ruột”. 

Mặc dù vậy, các nghiên cứu cho thấy nguồn cung cấp sắt của phần lớn dân số Anh là thực phẩm tăng cường như ngũ cốc và bánh mỳ. Loại sắt chứa trong thực phẩm tăng cường và thuốc bổ trợ, tuy nhiên, lại không dễ hấp thụ. 

Tiến sỹ Das nói thêm rằng thực phẩm tăng cường là không thực sự cần thiết bởi chế độ ăn bình thường ở phương Tây vốn đã giàu chất sắt, kể cả với những người ăn chay. Dù đồng ý rằng thịt đỏ là nguồn sắt tuyệt vời, Alison Clark đề nghị rằng mỗi người chỉ nên ăn 2-3 bữa/tuần, không nhiều hơn 500g mỗi tuần, vì ăn nhiều quá làm tăng nguy cơ ung thư. 

Các nguồn sắt tốt khác là đậu xanh, hạt đỗ mạch, hoa quả sấy khô và các rau lá xanh. Tất cả các chuyên gia đều nhất trí rằng không ai nên uống thuốc bổ sung sắt trước khi đi khám bác sỹ.
Click đọc ngay…