Bệnh nhân tiểu đường ăn cơm thế nào cho tốt?

10:32 |
Gạo trắng luôn bị xem là thực phẩm xấu vì có thể gây tăng đáng kể đường huyết hay glucose trong máu. Tuy nhiên, theo GS Jeyakumar Henry, Giám đốc TT Nghiên cứu dinh dưỡng lâm sàng Singapore (CNRC), ăn bao nhiêu, ăn cùng với gì và thậm chí ăn như thế nào sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn về chỉ số đường huyết. 

GS Henry cho biết 1 trong những nghiên cứu đầu tiên của Trung tâm thực hiện năm 2014 đã thực nghiệm trên món ăn địa phương được yêu thích: cơm gà. Nghiên cứu đăng tải trên tại chí Dinh dưỡng Châu Âu này chỉ ra rằng chỉ số đường huyết (GI) của “gạo trắng là 96 nhưng khi kết hợp với ức gà, dầu đậu phộng và rau, chỉ số này sẽ giảm còn 50). 


Chỉ số GI sẽ đo xem lượng đường trong máu tăng lên bao nhiêu. Chỉ số GI từ 55 trở xuống là tốt và trên 70 là cao. 

Ăn cơm với thịt sẽ giúp giảm chỉ số GI. Chỉ số GI tốt nhất là khi cơm được ăn kèm với đậu phụ, nhưng gà hay cá hay các loại thịt khác cũng đều có tác dụng tốt với chỉ số đường trong máu. 

Một số phát hiện thú vị khác của Trung tâm CNRC là khi ăn cơm gà, tốt nhất nên uống nước canh trước vì như vậy sẽ giúp giảm phản ứng đường huyết của cơ thể. Đó là bởi vì nước canh gà và có lẽ là cả các loại canh thịt khác rất ràu axit amino giúp kích thích sự tăng tiết insulin. 

Một nghiên cứu khác thực hiện bởi Trung tâm này cho thấy uống sữa đậu nành hay sữa cũng giúp giảm đường huyết sau bữa ăn, ngay cả khi đó là sữa đậu nành có đường. 

Trước đó, nhiều nghiên cứu cho thấy ăn gạo trắng sẽ làm tăng đường huyết. Và lượng đường trong máu cao được xem là nguyên nhân dẫn tới tiểu đường, 1 căn bệnh mãn tính có thể gây suy thận, mù mắt và hoại tử chi. Nguyên nhân là do tuyến tuỵ phải hoạt động quá mức để loại bỏ số đường dư thừa trong máu, gây nguy hiểm cho các cơ quan nội tạng. 

Khi điều này diễn ra thường xuyên, tuỵ sẽ bị “mệt mỏi” và đó là dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Do đó, giảm chỉ số GI trong thực phẩm sẽ giúp tuyến tuỵ được nghỉ ngơi và làm chậm sự khởi phát của căn bệnh tiểu đường. 

“Có thể nói nghiên cứu này không chỉ hữu ích với bệnh nhân tiểu đường mà cả với người khoẻ mạnh”, GS Henry nói.
Click đọc ngay…

Rời ngày kinh nguyệt bằng thuốc thế nào?

10:44 |
Vì một lý do cá nhân phụ nữ muốn dời ngày kinh nguyệt nhằm chủ động ngày kinh nguyệt. Có rất nhiều cách để dời chu kỳ kinh nguyệt trong đó có uống thuốc tránh thai. Vậy ai không được sử dụng phương pháp này, áp dụng như thế nào cho đúng? 

Trong trường hợp bạn đang uống thuốc tránh thai: 

Nếu sử dụng thuốc tránh thai loại 21 viên thay vì nghỉ 7 ngày, thì không nghỉ mà tiếp tục uống luôn vỉ tiếp theo. Khi nào muốn có kinh cần tạm ngưng uống thì sau 3 - 5 ngày sau hiện tượng ra kinh bình thường. 

Nếu bạn đang uống thuốc loại vỉ có 28 viên thì trong đó có 7 viên khác màu đó là viên thuốc bổ sắt, ta không nên uống mà tiếp tục uống vỉ tiếp theo. 


Nếu không sử dụng thuốc tránh thai:

Việc dời ngày kinh tốt nhất là uống ngay từ lúc có kinh ngày đầu tiên và uống liên tục mỗi ngày 1 viên vào 1 giờ nhất định trong vòng 3 tuần loại vỉ 21 viên sau đó uống tiếp luôn 1 tuần nữa, việc dời ngày kinh của bạn sẽ được như ý. Sau khi ngưng uống thuốc hiện tượng ra kinh sẽ xảy ra sau đó vài ngày. 

Nếu bạn là người chưa lập gia đình, không để ý việc theo dõi ngày kinh, muốn dời ngày kinh, mà thời điểm kinh nguyệt qua rồi, thì bạn vẫn có thể uống viên tránh thai vào thời điểm trước có kinh 2 tuần, mỗi ngày uống 1 viên loại vỉ 21 viên và uống liên tục trong 3 tuần rồi ngưng. 

Điều lưu ý, khi uống thuốc tránh thai để dời ngày kinh không nên uống chung các loại thuốc sau: thuốc chống co giật, barbiturate, tetracycline, rifampicin, than hoạt, một số thuốc nhuận tràng, các thuốc trị đái tháo đường vì sẽ làm giảm tác dụng của thuốc. 

Và khi sử dụng phương pháp này có thể có một số biểu hiện của tác dụng phụ như: Buồn nôn, nhức đầu, lên cân nhẹ, căng ngực, thay đổi tâm tính, có thể ra huyết âm đạo ít ở giữa thời điểm uống thuốc. 

Những trường hợp tuyệt đối không được sử dụng phương pháp này là phụ nữ mắc một số bệnh như: Bệnh suy gan, xuất huyết âm đạo chưa xác định nguyên nhân, bệnh tăng lipoprotein huyết, thiếu máu hình cầu liềm, thiếu máu tán huyết mãn tính, bệnh huyết khối động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, tăng huyết áp độ II - III, bệnh Lupus ban đỏ, bệnh ung thư vú, tăng sản nội mạc tử cung. 


Bác sĩ Nguyễn Hữu
Click đọc ngay…

6 Thực phẩm cần kiêng trong ngày đèn đỏ

10:20 |
Theo Hli People, cơ thể của phụ nữ có sự thay đổi rất lớn khi đến kỳ "đèn đỏ", vì thế phải đặc biệt chú ý đến vấn đề dinh dưỡng trong thời gian này để bồi bổ cơ thể. Đồng thời chú ý tránh dùng một số loại thực phẩm sau: 

1. Thức uống chứa cafein 


Uống cà phê trong thời kỳ này sẽ khiến ngực nở to hơn, gây cảm giác đau khiến tâm lý lo lắng phiền muộn, tinh thần không ổn định. Cafein cũng làm tiêu hao một lượng lớn vitamin B, phá hoại quá trình trao đổi chất và chuyển hóa đường trong cơ thể. 

2. Rượu 


Rượu cũng làm tiêu hao vitamin B và khoáng chất trong cơ thể. Uống quá nhiều rượu sẽ phá hoại quá trình trao đổi chất và chuyển hóa đường trong cơ thể, đồng thời sản sinh ra lượng estrogen quá mức. Vì thế tuyệt đối không nên uống rượu trong kỳ "đèn đỏ". 

3. Thực phẩm chứa sữa 


Sữa là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng đau bụng kinh. Các loại thực phẩm chứa sữa gồm sữa bò, bơ, phô mai, sữa chua, trứng gà…tác động tới quá trình hấp thụ magiê trong cơ thể, tạo nên cảm giác đau bụng. 

4. Thực phẩm chứa nhiều chất béo 


Thịt bò, thịt heo và thịt dê là các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo hơn cả, nếu ăn quá nhiều sẽ khiến cơ thể tiêu hao nhiều khoáng chất, ảnh hưởng tới sức khỏe. 

5. Đường 


Đường làm tiêu hao vitamin B và khoáng chất trong cơ thể, đồng thời kích thích dạ dày muốn nạp thêm thực phẩm chứa đường. Do vậy nó khiến bạn rơi vào vòng xoáy luẩn quẩn của việc lạm dụng đường ngày càng tăng. 

6. Thực phẩm chứa nhiều natri 


Thực phẩm chứa nhiều natri khiến ngực nở to hơn, gây nên cảm giác căng tức và đau vùng ngực. Nếu ăn loại thực phẩm chứa nhiều natrium thường xuyên trong thời gian dài dễ mặc bệnh phù thũng.
Click đọc ngay…

Chảy máu ngoài kỳ kinh, những nguy cơ tiềm ẩn

10:56 |
Chảy máu bất thường giữa hai chu kỳ kinh nguyệt hay chảy máu ngoài kỳ kinh vẫn hay gặp ở một số chị em, là một hiện tượng không bình thường. Vậy nguyên nhân nào gây nên tình trạng này? có gây nguy cơ nào đến sức khỏe của chị em?

Tình trạng bất thường 

Nếu đã là phụ nữ qua tuổi dậy thì và đang trong độ tuổi sinh sản, chắc chắn chúng ta không còn lạ với hiện tượng chảy máu âm đạo trong kỳ kinh nguyệt. Hiện tượng này là bình thường và tháng xuất hiện một lần. Tuy nhiên, sẽ thực sự lo lắng nếu chưa đến ngày chu kỳ thì máu lại chảy ra. Nó có thể không đau rát, số lượng không nhiều, chỉ chút xíu hoặc thấm băng, nhưng để lại một tâm lý rất bất an.


Về thực chất, sự chảy máu bất thường này có hai nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra. Nhóm nguyên nhân liên quan đến hormon sinh dục nữ khiến cho sự phát triển của niêm mạc tử cung không bình thường và chảy máu cũng xuất hiện không bình thường. Nhóm nguyên nhân thứ hai liên quan đến các chấn thương cơ học, các tổn thương bệnh lý xuất hiện tại âm đạo làm mất đi sự liền mạch của âm đạo.

Sự chảy máu cũng sẽ xuất hiện y hệt như các nguyên nhân liên quan đến hormon. Tuy nhiên, sự chảy máu âm đạo là bất thường song không phải sự bất thường nào cũng đáng lo lắng. Có sự chảy máu lành tính và có thể bỏ qua, nhưng có sự chảy máu là nghiêm trọng vì những bệnh lý tiềm ẩn bên trong. Vì thế, chúng ta cần biết những điều mà chúng ta phải đối mặt. 

Nguyên nhân và những nguy cơ do chảy máu bất thường

Nhóm đối tượng thứ nhất có sự chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt đó là các đối tượng dùng thuốc tránh thai. Có hai loại thuốc tránh thai được bán trên thị trường đó là thuốc tránh thai dài ngày uống cả tháng và thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ uống sau khi quan hệ tình dục. Khi dùng thuốc tránh thai có thể sẽ gây nên hiện tượng rối loạn kinh nguyệt, được thể hiện bằng sự chảy máu giữa hai chu kỳ kinh.

Một đặc điểm của sự chảy máu ở nhóm đối tượng này đó là sự rối loạn kinh nguyệt xảy ra trong 3 tháng đầu tiên khi dùng thuốc. Vì các thuốc tránh thai có bản chất là hormon sinh dục nữ nên các thuốc này dễ dàng tác động làm thay đổi nồng độ các hormone trong cơ thể. Sự thay đổi này là gốc rễ gây ra hiện tượng chảy máu bất thường giữa hai kỳ kinh.

Tuy nhiên, sự chảy máu bất thường do thuốc tránh thai chỉ tác động với chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên hoặc những tháng liền kề ngay sau thời điểm dùng thuốc. Nó sẽ bình ổn trở lại vào những thời điểm xa hơn. Nếu như sau khi dừng thuốc tránh thai 3 tháng trở ra hoặc sau khi đã dùng thuốc được 3 tháng mà chảy máu vẫn xuất hiện thì bạn cần tạm thời dừng thuốc lại và đi khám phụ khoa để đánh giá lại sự thích hợp của thuốc với cơ thể.

Dù có thế nào, sự chảy máu ngoài kỳ kinh do thuốc tránh thai cũng được coi là sự chảy máu an toàn và lành tính nhất. 

Nhóm đối tượng thứ hai liên quan đến hiện tượng chảy máu này đó là phụ nữ nằm trong độ tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh hoặc những phụ nữ bị mới sảy thai. Chúng tôi xếp nhóm này vào chung trong một nhóm là vì những người này đều có chung một cơ chế gây ra chảy máu đó là sự biến động hormon và sự biến động hormon rất lành tính.

Có thể nói đây là sự chảy máu cũng không đáng lo. Sở dĩ ở nhóm phụ nữ tiền mãn kinh có hiện tượng chảy máu âm đạo là vì lúc đó buồng trứng không còn hoạt động đồng nhất. Chúng bắt đầu đi vào giai đoạn thoái hóa. Có trứng thì hoạt động theo chu kỳ nhưng có trứng không còn hoạt động theo chu kỳ. Chúng là nguyên nhân gây ra sự dao động thất thường của các hormon sinh dục nữ và gây ra chảy máu.


Song sự chảy máu này không là hiện tượng bệnh lý. Nó sẽ tự hết đi khi chúng ta qua độ tuổi này và bình ổn trở lại. Bạn sẽ giảm chảy máu dần và tiến tới sạch kinh. Còn phụ nữ mới bị sảy thai cũng có thể chảy máu đó là do cơ thể chưa trở về trạng thái thăng bằng như bình thường. Vẫn còn tàn dư của hormon trong giai đoạn mang thai và chúng ta tiếp tục bị rối loạn kinh nguyệt. Song nó cũng không kéo dài, chỉ chừng 1-2 tháng sau khi xảy thai mà thôi. Bạn cũng không có gì quá lo lắng khi mình nằm trong nhóm đối tượng này.

Nhóm phụ nữ thứ ba là những người bị hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh lạc nội mạc tử cung. Hội chứng buồng trứng đa nang là hiện tượng buồng trứng có rất nhiều nang trứng phát triển nhưng không thể to lên và phóng noãn được. Các nang trứng cứ tuần tự gối nhau phát triển nhưng không nang trứng nào chín và giải phóng noãn, hay còn gọi là rụng trứng. Lý do là vỏ buồng trứng quá dày và trứng không thể lớn lên thêm.

Chính sự phát triển nhiều và đồng loạt của các nang trứng mà ở người bị bệnh buồng trứng đa nang, nồng độ hormon sinh dục không đều, không thành chu kỳ và cao thấp thất thường. Có khi lại có quá nhiều hormon sinh dục nữ nhưng có khi lại chẳng có đủ hormon như kỳ vọng. Kết quả là người phụ nữ bị nhóm bệnh này luôn bị rối loạn kinh nguyệt. Khi thì chảy máu giữa chu kỳ kinh khi thì vô kinh. Đây là một dạng chảy máu bất thường giữa hai chu kỳ kinh rất đáng lo, vì nó có thể gây ra vô sinh. 

Nhóm đối tượng thứ tư có sự chảy máu bất thường ngoài kỳ kinh đó là phụ nữ bị viêm loét âm đạo do các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Các bệnh này làm nhiễm khuẩn âm đạo, gây viêm loét bề mặt và làm tổn thương mạch máu. Vì thế sự chảy máu hoàn toàn không liên quan gì đến chu kỳ kinh. Bất cứ khi nào có sự tác động hoặc bất cứ khi nào có viêm loét rộng và sâu thì chảy máu xảy ra.

Có thể bạn vừa mới sạch kinh nhưng bạn đã lại bị chảy máu ngay đó là các bệnh lý nhiễm mầm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Hiện tượng chảy máu ngoài kỳ kinh do bệnh lây truyền qua đường tình dục có đặc điểm: bạn phải có quan hệ tình dục không an toàn trước đó, bạn quan hệ với nhiều bạn tình hoặc bạn tình của bạn bị nhiễm bệnh, máu chảy ra thường không rõ ràng và thường kèm theo lẫn khí hư, dịch nhầy của âm đạo. Sự chảy máu bao giờ cũng kèm theo sự ngứa, rát âm hộ, âm đạo.

Với sự chảy máu này, chúng ta chỉ cần đi khám phụ khoa và được điều trị là có thể bình ổn lại.

Nhóm người thứ năm có thể bị chảy máu đó là các phụ nữ bị bệnh lý ác tính như ung thư âm đạo, ung thư cổ tử cung. Những bệnh lý này cũng có thể gây ra sự chảy máu thất thường. Những người bị ung thư âm đạo và ung thư cổ tử cung có hiện tượng rối loạn cấu trúc và chức năng tại các bộ phận này. Các khối u phá vỡ cấu trúc bình thường của các cơ quan sinh dục. Chúng làm cho lớp niêm mạc dễ bị tổn thương và dễ bị chảy máu, gây ra viêm loét bề mặt và khiến cho sự chảy máu bất thường diễn ra y hệt như viêm loét âm đạo do các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Đồng thời, dưới sự tác động của khối u, buồng trứng bị kích thích và bị rối loạn chức năng. Hoạt động chế tiết hormon sinh dục của buồng trứng bị rối loạn gây ra sự chảy máu bất thường ngoài kỳ kinh. Đây là bệnh lý đáng ngại nhất trong các nhóm bệnh lý gây ra chảy máu ngoài kinh nguyệt. Vì chúng có thể di căn và tác động lên toàn cơ thể, mở màn cho một sự rối loạn toàn cơ thể mà sự chảy máu bất thường mới chỉ là dấu hiệu ban đầu. Chúng cũng có thể rút ngắn tuổi thọ của bạn ngoài mong muốn.

Nhóm người thứ sáu có hiện tượng chảy máu ngoài kỳ kinh đó là các rối loạn liên quan đến chấn thương âm đạo tử cung như dụng cụ tử cung không thích hợp, giao hợp quá thô bạo. Những tác động này khiến cho chấn thương lớp niêm mạc âm đạo tử cung và gây ra chảy máu.

Tuy nhiên, những dạng chảy máu này là không đáng ngại và không tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe hệ trọng. Chỉ cần bạn giải quyết vấn đề dụng cụ tử cung bằng cách đặt lại hoặc tháo bỏ thì chảy máu sẽ hết. Hoặc bạn chịu khó chăm sóc vài ngày và không quan hệ tình dục trong trường hợp chấn thương cũng sẽ lành bệnh. 

Xử lý thế nào? 


Với các chảy máu bất thường ngoài kỳ kinh, tùy theo hiện tượng chảy máu, số lượng máu chảy và các dấu hiệu kèm theo, chúng ta có các giải pháp khác nhau.

Nếu lượng máu chảy ra không nhiều và chỉ thấm băng, máu chảy ra màu đỏ tươi, bạn có thể yên tâm đó chỉ là những chấn thương bên trong có thể do quan hệ tình dục gần đây gây ra. Bạn chỉ cần nghỉ ngơi, tránh lao động nặng, đôi ba ngày hiện tượng này sẽ hết. Cần vệ sinh cơ quan sinh sản sạch sẽ để tránh nhiễm trùng thứ phát.

Nếu máu chảy ra lại có khí hư, mùi hôi, dịch nhờn nhiều và thậm chí có mủ… là chảy máu do viêm nhiễm đường sinh dục. Có thể do các bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra. Cần vệ sinh sạch sẽ và dùng thuốc kháng sinh điều trị. Hiện tượng chảy máu sẽ hết sau khi bệnh chính được điều trị triệt để. Lúc này viên thuốc đặt phụ khoa rất có tác dụng.

Nếu bạn chảy máu có kèm theo các hiện tượng như mót dặn, mót tiểu thì nguy cơ bạn bị khối u rất lớn. Lúc này bạn cần đi khám tại các cơ sở sản phụ khoa để có hướng xử lý kịp thời.

Nếu bạn chảy máu có liên quan đến các thuốc tránh thai thì bạn có thể yên tâm. Vì một thời gian ngắn sau bạn có thể tự bình ổn trở lại. Nhưng nhớ là không được lạm dụng thuốc tránh thai, nhất là thuốc tránh thai khẩn cấp. Mọi trường hợp có chảy máu nhiều, chảy máu kéo dài bạn cần đi khám ngay. Lúc này bạn cần được xác định chính xác để xử trí sớm trước khi quá muộn.


BS. Yên Lâm Phúc

Xem thêm bài viết liên quan:

>>> Chảy máu âm đạo bất thường, cảnh báo bệnh gì?

>>> Ra máu nhiều khi quan hệ, nguyên nhân và phòng tránh

Click đọc ngay…

Trầm cảm và những hậu quả nặng nề với phòng the

10:43 |
Trầm cảm là căn bệnh thời đại đang phát triển nhanh trong những năm gần đây. Một trong những ảnh hưởng không tốt của trầm cảm lên sức khỏe là vấn đề rối loạn chức năng hoạt động tình dục. 

Trầm cảm và suy giảm tình dục 

Trầm cảm là một loại rối loạn cảm xúc, tác động đến khí sắc, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, nhận thức, rối loạn thần kinh thực vật và tâm thần vận động của người bệnh... Bệnh có tỷ lệ mắc cao, những yếu tố thúc đẩy bệnh hoặc tái phát bệnh thường là những sang chấn tâm lý trong cuộc sống như: tai nạn bất ngờ, mất mát người thân, đổ vỡ các mối quan hệ tình cảm, làm ăn thua lỗ... 


Bệnh này dẫn đến giảm khả năng về mặt xã hội của con người như: học tập, giao tiếp, công việc... Về mặt cảm xúc, người trầm cảm hay buồn bã, ủ rũ, chán chường, lo lắng, đau khổ, sợ hãi, hoài nghi... Về mặt tâm trí, các chức năng nhận thức ở người trầm cảm bị trì trệ, ức chế, nhất là mức độ chú ý, tiếp thu, tư duy trí nhớ, khả năng thích nghi. 

Những biến đổi cảm xúc và rối loạn tâm trí đó thường đi đôi với những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan nội tạng khác nhau thể hiện dưới dạng đau đầu, mất ngủ, đau ngực, đau vùng trước tim, rối loạn nhịp tim, đau cơ xương khớp, huyết áp thất thường... và đặc biệt là rối loạn và suy giảm tình dục. 

Rối loạn tình dục là một triệu chứng thường thấy ở cả nam và nữ khi mắc chứng trầm cảm. Có thể phân ra 3 loại rối loạn gồm: suy giảm ham muốn, rối loạn cương và rối loạn xuất tinh. Bệnh nhân trầm cảm thường giảm mạnh các hứng thú và đam mê, trong đó có nhu cầu tình dục. 

Họ thường than phiền rằng đã mất hết các sở thích vốn có trước đây. Họ không còn ham muốn tình dục, nhiều khi hàng tháng không muốn quan hệ với vợ, chồng (hoặc bạn tình). Hoặc có quan hệ cũng là do chiều chồng (vợ) chứ bản thân không thấy hứng. Bên cạnh đó, người bệnh thường có cảm giác mệt mỏi nên luôn tìm cách từ chối quan hệ tình dục. Dần dần họ lâm vào tình trạng mệt mỏi hơn. Họ thường viện cớ công việc, sức khỏe... để thoái thác. 

Bệnh nhân trầm cảm luôn trong tình trạng buồn rầu vô cớ, nét mặt ủ rũ, tâm trạng u uất, không thể vui được (dù có các tác động bên ngoài). Chính vì cảm giác buồn bã này mà họ không muốn quan hệ tình dục. Với họ, đời sống tình dục là một khái niệm gần như không tồn tại. 

Thuốc trầm cảm ảnh hưởng xấu đến tình dục 

Thuốc chống trầm cảm đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị trầm cảm. Bệnh nhân phải uống thuốc liên tục trong thời gian dài (tối thiểu 1 năm), thậm chí suốt đời. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng, đa vòng, ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin... đều ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của bệnh nhân ở các mức độ khác nhau. 

Bệnh nhân nam thường than phiền khó cương dương vật, giảm ham muốn, khó xuất tinh. Bệnh nhân nữ thì mất hết ham muốn, âm đạo khô hơn, do vậy thường gây đau, rát và khó khăn trong quan hệ tình dục. Các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tình dục nhiều nhất là amitriptylin và fluoxetin. Nhưng đây lại là hai thuốc chống trầm cảm có hiệu quả điều trị rất cao, giá thành rẻ, dễ sử dụng nên hay được các bác sĩ chỉ định. 


Để hạn chế ảnh hưởng và tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm đến đời sống tình dục, các bác sĩ chuyên khoa sẽ cho bệnh nhân dùng kết hợp thuốc chống trầm cảm với các thuốc arcalion, piracetam hoặc ginko biloba... Trong một vài trường hợp điển hình, bác sĩ thường khuyên bệnh nhân đổi thuốc (nếu có thể). Các thuốc thay thế như stablon, luvox hoặc mirtazapin ít ảnh hưởng đến tình dục. 

Một giải pháp khác là loại bỏ các thuốc an thần, thuốc chỉnh khí sắc, vì chính các thuốc này ảnh hưởng xấu đến chức năng tình dục của bệnh nhân. 

Lời khuyên của thầy thuốc 

Trong điều trị bệnh trầm cảm và các rối loạn tình dục, vai trò của người bệnh rất quan trọng với tình trạng bệnh của mình. Để trị được bệnh trầm cảm, bạn cần thực hiện những việc sau: Tránh cảm giác chán đời, nên cố gắng đừng để cho mình quá rảnh rỗi, năng tham gia việc gia chánh hoặc học thêm... 

Nên đi chơi, đến quán cà phê, giải trí với bạn bè bằng loại hình nghệ thuật mà mình chưa chán. Đừng bỏ qua cơ hội và nên cố gắng thu xếp tham dự những hoạt động tập thể để tiếp xúc với đồng nghiệp, tạo niềm vui mới... Trong sinh hoạt cộng đồng, bạn sẽ thấy mình có ích cho người khác, được người khác quý mến. 

Mỗi ngày hãy tạo cho bản thân và người nhà một niềm vui nho nhỏ: Mua vé đi xem phim, tặng một cuốn sách mới, nấu món ăn mới... Hãy thường xuyên tập luyện thể dục, có chế độ ăn uống hợp lý. Sử dụng đồ ăn giàu vitamin và các chất chống ôxy hóa, tránh chế độ ăn nghèo calo, đồ béo, đồ ngọt, không uống rượu, bia và cà phê đặc... 

Theo các bác sĩ, mỗi người nên cố gắng có một cuộc sống cân bằng, vui vẻ và hài hòa để sức khỏe tinh thần và thể chất luôn dồi dào. Có như vậy, những căn bệnh như stress, trầm cảm, rối loạn tình dục... mới không tấn công chúng ta được. 


BS. Tâm Anh
Click đọc ngay…

Ra máu nhiều khi quan hệ, nguyên nhân và phòng tránh

15:12 |
Trong quá trình quan hệ, một số chị em có dấu hiệu ra máu nhiều không chỉ khiến cuộc "yêu" mất hứng mà còn có thể gặp nguy cơ bệnh tật. Một số trường hợp băng huyết cần được cấp cứu để cầm máu.
 
Tại sao có sự ra máu nhiều ở vùng kín? 

Bình thường ống âm đạo được xếp sát với nhau bởi mặt trước và mặt sau. Hệ sinh dục nữ giới cũng chịu tác động theo chu kỳ kinh nguyệt, có sự thay đổi theo chu kỳ. Khi có sự “ thăng hoa” các mạch máu sẽ dồn về vùng hệ sinh dục, giúp các cơ quan nơi đây giãn nở, đặc biệt là thành ống âm đạo goãn nở tối đa, đồng thời sự tiết chất nhờn từ các ống cửa tuyến như tuyến Bartholine, tuyến Skene và các tế bào tuyến thành âm đạo giúp cho sự “thăng hoa” được trọn vẹn. 


Vì một nguyên nhân do lực tác động mạnh làm tổn thương, do kỹ thuật không đúng cách hay sử dụng các công cụ hỗ trợ, có thể gây chấn thương bất kỳ vị trí nào của hệ sinh dục với những tổn thương như rách, giập nát, thủng mà hệ quả là gây ra chảy máu nhiều. 

Những nguyên nhân thường gặp: rách màng trinh ngay ở vị trí mạch máu gặp những trường hợp quan hệ lần đầu với các động tác vồ vập quá mức; rách thành âm đạo; rách cùng đồ; rách tầng sinh môn và rách cùng đồ phức tạp gây thủng lên ổ bụng do những động tác thô bạo; những tư thế nguy hiểm không phù hợp giải phẫu của người nữ giới hay sử dụng những công cụ gắn những vật dụng, hòn bi sắt, râu hùm… 

Các dấu hiệu nhận biết 

Ngay sau khi quan hệ, thấy hiện tượng ra máu nhiều thấm ướt cả quần nhỏ; những trường hợp tổn thương ở phía ngoài như rách màng trinh, rách thành âm đạo ngoài thì không có triệu chứng của đau, chỉ thấy có cảm giác rát ở vùng âm hộ. 

Trường hợp tổn thương sâu hơn như rách âm đạo - cùng đồ, hay rách cùng đồ sau, ngoài triệu chứng ra máu từ trong âm đạo nhiều, ra máu đỏ tươi và máu cục, kèm theo đau bụng nhiều vùng dưới. Trường hợp ra máu nhiều dẫn đến người bệnh chóng mặt, ngất xỉu, vã mồ hôi, huyết áp tụt da niêm xanh nhợt biểu hiện mất máu nhiều. 

Cách xử trí 

Ngay sau khi quan hệ xong, thấy tình trạng ra máu nhiều bắt buộc phải đến cơ sở y tế có khoa sản. Bác sĩ sẽ khám và đánh giá thương tổn để có hướng xử trí kịp thời. Trường hợp rách màng trinh đang chảy máu, rách thành ngoài âm đạo ngoài ta chỉ cần gây tê tại chỗ bằng Lidocain 2% rồi may cầm máu lại bằng chỉ chromic 2.0 là đủ. 

Trường hợp rách thành âm đạo sâu bên trong, kèm rách cùng đồ. Có thể tiền mê bằng Atropin 0,25mg hoặc Dolargan 100mg và may lại chỗ rách bằng chỉ chromic 2.0 hay chỉ vicryl 2.0 để cầm máu. Trường hợp ra máu nhiều, gây tụt huyết áp phải hồi sức bằng dịch truyền mặn đẳng trương như Natrichlorua 0,9% kết hợp truyền máu cùng nhóm bằng hồng cầu lắng, rồi chuyển lên phòng mổ thám sát và xử trí tại phòng mổ. 

Trong những trường hợp này tổn thương sâu, rách phức tạp hay người bệnh đến trễ gây mất máu nhiều. Khi thám sát âm đạo có những trường hợp có tổn thương phức tạp thương tổn có thể rách sâu lan lên ổ bụng thì phải phẫu thuật nội soi ổ bụng thám sát và khâu cầm máu lỗ thủng. 


Sau khi xử trí khâu cầm máu, cần nằm theo dõi, dùng thuốc kháng sinh toàn thân ngừa nhiễm trùng như Cephalexin, Augmentin, Negacef, đối với trường hợp nhẹ, thương tổn ít, dùng kháng sinh tiêm trong những trường hợp thương tổn nặng như Cefuroxim, Zadim, Alfacef. Kết hợp giảm đau như Paracetamol, Tatanol, Efferalgan. Sát trùng bằng dung dịch Betadine. 
Cách ngăn ngừa 

Những phụ nữ quan hệ lần đầu, cần có sự trao đổi những cách thức “yêu” thật hợp lý trước khi “lâm trận”. Cách động tác ban đầu nhẹ nhàng và uyển chuyển, tránh thô bạo. Không nên áp dụng những tư thế làm người bạn tình thấy khó chịu, bất an. Đối những phụ nữ trung niên trở lên có thể dùng chất bôi trơn để tránh khô rát dễ gây tổn thương thành âm đạo. 

Tuyệt đối tránh các công cụ “sextoy” hay công cụ tự chế, ngoài việc gây ra tổn thương còn gây ra nhiễm trùng đường sinh dục rất nguy hiểm. Việc sự cố trong quan hệ đã ảnh hưởng đối với hạnh phúc và đời sống lứa đôi sau này rất lớn. Nó không chỉ làm cho người phụ nữ không thấy hứng thú trong quan hệ tình dục nữa, mà còn sợ gần chồng, sợ và từ chối quan hệ khiến người bạn đời của họ cũng bị ức chế, giảm hứng thú vi lo lắng. 

Để xóa tan đi nỗi ám ảnh đó điều chỉnh lại chế độ sinh hoạt - ăn uống - nghỉ ngơi, càng thuận theo tự nhiên càng tốt; tham gia các hoạt động ngoài trời như dã ngoại, thể dục... cho đến khi tìm được sự cân bằng tinh thần để sẻ chia, chấm dứt được ký ức đã qua. 


BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Click đọc ngay…

Đau bụng dưới khi quan hệ tình dục, vì sao?

14:27 |
Đau bụng dưới khi đang quan hệ tình dục là tình trạng nhiều chị em gặp phải. Cơn đau có khi chỉ nhói lên, có khi chỉ thoáng qua, có người đau âm ỉ. Dù đau ở mức độ nào, thì những cơn đau khi “yêu” cũng khiến cả hai không thoải mái và báo hiệu những điều không bình thường trong cơ thể. 

Đau bụng dưới sau khi quan hệ mặc dù không phải là một rối loạn chức năng sinh dục nhưng lại liên quan trực tiếp đến những ham muốn tình dục, khoái cảm và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc yêu. 

Những cơn đau bụng dưới là những cơn đau âm ỉ kéo dài, đau vùng hạ vị, vùng bụng dưới rốn. Không đơn giản vì tâm lý quá lo sợ hoặc do tử cung co bóp và bị kích thích quá mạnh trong quan hệ, đau bụng dưới khi quan hệ cũng có nguyên nhân phần nhiều là từ bệnh phụ khoa. 


Nguyên nhân sinh lý đau bụng dưới khi quan hệ tình dục

“Yêu” quá mạnh hoặc không đúng tư thế: nguyên nhân này rất thường gặp, do cả hai dùng sức quá nhiều, hấp tấp, vội vàng khi quan hệ dễ gây ra áp lực đột ngột lên thành tử cung, cơ bụng, trực tràng, bàng quang... từ đó dẫn đến đau bụng. Ở phụ nữ do cấu tạo niệu đạo và bàng quang gần phía dưới của tử cung, nếu có lực mạnh kích thích rất dễ bị tổn thương thường là các cơn co thắt gây đau bụng. 

Thời gian quan hệ kéo dài: nhiều chị em phải âm thầm chịu đựng người chồng vì lý do nào đó rất khó đạt đỉnh. Càng như vậy thì quý ông càng căng thẳng, càng có những thao tác mạnh. Bên cạnh đó chị em cũng căng thẳng, ức chế nên cơ thể căng cứng. Quan hệ trong tình trạng này rất dễ bị đau bụng. 

Tốt nhất phải thay đổi tư thế khi gần gũi, tìm tư thế mà cả hai thoải mái nhất để giảm triệu chứng trên. Giao hợp trong kỳ mang thai: nhất là ba tháng đầu và tháng cuối cùng thường xảy ra các cơn co thắt tử cung, hậu quả không chỉ gây đau bụng thậm chí có thể gây ra sinh non. 

Nguyên nhân bệnh lý đau bụng dưới khi quan hệ tình dục
Phụ nữ đau bụng dưới sau quan hệ có thể do một số bệnh phụ khoa gây nên 

Viêm cổ tử cung và tử cung: cổ tử cung phụ nữ rất dễ bị viêm nhiễm, một khi đã có viêm sẽ trở nên sưng tấy và trợt loét, có hiện tượng chảy máu bề mặt. Viêm tử cung là những viêm nhiễm bên trong thành tử cung, nội mạc tử cung do nhiễm khuẩn từ đường sinh dục, phá thai, sẩy thai... 

Biểu hiện bệnh thường là những cơn đau bụng dưới, đau âm ỉ và lan tỏa ra cả vùng bẹn, đùi, đặc biệt cảm giác đau tăng lên khi quan hệ tình dục. 

Viêm vùng chậu: là một trong những nhiễm khuẩn đường sinh dục rất nguy hiểm. Gồm viêm vòi trứng, buồng trứng và cả tử cung, với những triệu chứng như khí hư bất thường, mót tiểu, sốt cao và đau lưng, đau bụng dưới. Đau rõ rệt nhất là sau khi quan hệ, nhiều trường hợp không điều trị kịp thời khiến vùng chậu bị tổn thương nặng, nữ giới dễ bị vô sinh. 

U xơ tử cung: khối u xơ lành tính và phát triển nhiều ở những phụ nữ tuổi 30-40. Chúng phát triển lớn sẽ làm cho bạn bị đau lưng, đau bụng, rối loạn kinh nguyệt, đau bụng dưới sau khi quan hệ. 

U nang buồng trứng: biểu hiện là bạn đi tiểu thường xuyên và bụng dưới thường xuyên gặp những cơn đau sau những lần quan hệ. U to lên các triệu chứng càng rõ rệt. 

Lạc nội mạc tử cung: những mô nội mạc tử cung phát triển ở bên ngoài tử cung tại buồng trứng, vòi trứng, bàng quang, ruột thậm chí là những cơ quan lân cận khác trong ổ bụng đôi khi cũng gặp tình trạng nội mạc tử cung sinh sôi và phát triển tại đó. Chính sự phát triển lạc chỗ này là căn nguyên của chứng đau bụng dưới, đau nhiều trong mỗi lần quan hệ tình dục. 

Lời khuyên của thầy thuốc 

Khi bị đau lúc “yêu”, điều cần làm trước tiên là chị em nên đi khám phụ khoa để làm các xét nghiệm, thăm khám để tìm ra bệnh. Nếu có bệnh thì nên tích cực điều trị cho đến lúc khỏi hẳn rồi mới quan hệ trở lại, điều này sẽ tốt cho cả việc quan hệ hiện tại lẫn việc sinh nở sau này. Hơn nữa, cả hai cần khắc phục các yếu tố tâm lý, gạt bỏ những lo lắng, căng thẳng không đáng có khi bước vào cuộc “yêu”. 

Khi quan hệ, cả hai cần thử và tìm ra những tư thế, động tác quan hệ tình dục một cách hòa hợp nhất. Việc chia sẻ với bạn tình về cảm giác của mình khi thử một tư thế mới là điều cần thiết, để từ đó đôi bạn tìm được sự hòa hợp tình dục và cảm giác thăng hoa. Hơn nữa, cần chăm sóc cho màn dạo đầu kĩ lưỡng hơn, khi cả hai thực sự hưng phấn thì những đau đớn do giao hợp sẽ giảm đi rất nhiều. 


BS. Nguyễn Song Nhi

Xem thêm các bài liên quan:

>>> Sa sinh dục, nỗi niềm khó nói của chị em

>>> Chảy máu âm đạo bất thường, cảnh báo bệnh gì?


Click đọc ngay…

Nguyên nhân không ngờ gây chậm kinh ở chị em

09:28 |
Những ngày “đèn đỏ” đến muộn (chậm kinh) khiến cho chị em vô cùng lo lắng. Nhưng hầu hết chị em phụ nữ đều không thể lý giải được điều đó là tại sao? Và nguyên nhân từ đâu mà những ngày kinh nguyệt “ghé thăm” gần đây muộn hơn thường lệ. 

Chị em phụ nữ mỗi tháng đều có 3-5 ngày hành kinh, những ngày này chị em sẽ phải chịu đựng những cơn đau bụng kinh, cơ thể mệt mỏi và khó chịu. Ai cũng sẽ phải trải qua những ngày thế này trong mỗi tháng và đến những tháng tiếp theo nó lại lặp lại như một chu kỳ. 


Sự xuất hiện kinh nguyệt và chu kỳ kinh nguyệt đều là những sinh lý hết sức bình thường trong cơ thể phụ nữ tuổi sinh sản. Bất cứ độ tuổi nào cũng có thể bị chứng chậm kinh nguyệt tuy nhiên thường gặp nhất là ở những người trong độ tuổi mới lớn và kinh nguyệt chưa ổn định. 

Trừ những trường hợp trong tuổi dậy thì và tuổi tiền mãn kinh thì mọi trường hợp bị chậm kinh khác đều là nguy cơ của tình trạng rối loạn kinh nguyệt do bệnh lý. Nguyên nhân chậm kinh nguyệt có rất nhiều, chế độ sinh hoạt không điều độ, đầu óc thường xuyên căng thẳng cũng có thể là nguyên nhân chậm kinh. 

Chị em phụ nữ có rất nhiều người bị mắc chứng chậm kinh nguyệt, mỗi người một nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu từ các nguyên nhân dưới đây.

1. Mang thai 

Đây là một trong những nguyên nhân chậm kinh thường gặp nhất. Nếu chậm kinh tới 7 ngày hoặc hơn thì việc đầu tiên nên làm là thử nước tiểu. Nếu xuất hiện thêm các triệu chứng như đau ngực, buồn nôn… thì khả năng mang thai càng cao. 

2. Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) 

PCOS là sự mất cân bằng nội tiết tố, thường đi kèm với mất kinh, béo phì hoặc chảy máu tử cung. Việc thay đổi hàm lượng estrogen, progesteron, testosteron gây hạn chế rụng trứng, không tạo được phóng noãn và kinh nguyệt. Các triệu chứng khác của PCOS có thể là vô sinh, khó giảm cân, rậm lông ở mặt và ngực… 

3. Tuyến giáp hoạt động bất thường 

Tuyến giáp trên cơ thể phụ nữ hoạt động kém làm thay đổi nồng độ hormone cũng là 1 trong những nguyên nhân gây chậm kinh.

4. Stress 

Áp lực công việc, căng thẳng trong cuộc sống, yếu tố tâm lý, thay đổi môi trường… làm giảm hàm lượng hoóc-môn GnRH, giảm khả năng rụng trứng, phóng noãn, là nguyên nhân chậm kinh, mất kinh ở chị em. 

5. Thừa cân hoặc thiếu cân 

Giảm cân quá mức cũng là nguyên nhân gây chậm kinh

Người quá gầy thường dễ ngưng sản xuất nội tiết tố estrogen và phóng noãn. Nếu cơ thể không đủ chất béo có thể dẫn đến hiện tượng vô kinh. 

Tuy nhiên, nếu tăng cân quá nhiều cũng ảnh hưởng đến lượng hoóc-môn, làm thay đổi chu kỳ kinh nguyệt của bạn. Do đó, duy trì cân nặng hợp lí là giải pháp hữu hiệu trong phòng ngừa biến chứng do rối loạn kinh nguyệt gây ra.

6. Vận động quá sức 

Thể dục điều độ sẽ cho nữ giới 1 có thể nở nang, tuy nhiên tập luyện quá sức hormone eptin báo cho não biết tỷ lệ mỡ của cơ thể và tỷ lệ này quyết định khá nhiều tới kinh nguyệt. 

7. Tác dụng phụ của thuốc 

Sử dụng thuốc tránh thai có mối liên hệ mật thiết, ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt. Hiểu đơn giản là ngăn trứng rụng trong giai đoạn này và vì thế kinh nguyệt không xuất hiện. Lưu ý nếu dùng quá nhiều thuốc tránh thai (đặc biệt là thuốc tránh thai khẩn cấp) sẽ dễ bị rối loạn chu kỳ kinh và tiềm ẩn nguy cơ vô sinh rất lớn.

8. Phẫu thuật 

Phẫu thuật có thể gây dính cổ tử cung, ứ huyết bên trong, là nguyên nhân chậm kinh. Nếu bệnh mạn tính không được điều trị kịp thời cũng tiềm ẩn nguy cơ làm ‘biến mất’ chu kì kinh nguyệt, đặc biệt là bệnh đường ruột. 

Click đọc ngay…

Vệ sinh kinh nguyệt đúng cách giúp chị em thoải mái nhất

17:10 |
Vùng kín là nơi rất dễ tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và gây viêm. Vì vậy vệ sinh kinh nguyệt đúng cách là biện pháp tốt nhất để chị em thoải mái trong những ngày hành kinh.

Trong những ngày hành kinh, lúc máu kinh thoát ra ngoài, cổ tử cung hở hơn những ngày không có kinh, tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ xâm nhập từ âm đạo vào buồng tử cung. 

Ngoài ra nhiều người không biết giữ vệ sinh hoặc vệ sinh không đúng cách cộng với một số quan niệm sai lầm hay “kiêng kỵ” tắm rửa khi hành kinh chính là nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục như viêm âm hộ, âm đạo, viêm cổ tử cung,... có thể gây ra nhiều biến chứng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ. 


Vệ sinh đúng cách sẽ tránh được viêm nhiễm 

Để vệ sinh kinh nguyệt đúng cách, cần thực hiện như sau: 

Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng không nên “kiêng” hoặc ngại mà cần phải tắm rửa thường xuyên. Cần tắm ở nơi kín gió, dùng nước sạch để tắm, không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối. 

Không nên ngâm người trong bồn tắm, ao, hồ hoặc bơi lội. hay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4 - 5 lần một ngày. Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước chín còn ấm thay rửa. 

Không nên sử dụng xà phòng tắm để vệ sinh vì nhiều người theo thói quen hoặc có suy nghĩ là xà phòng diệt khuẩn tốt nên thường vệ sinh bằng xà phòng tắm. Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vì chất kiềm trong xà phòng làm rối loạn độ cân bằng kiềm toan của âm hộ, âm đạo. Chỉ nên dùng nước rửa vệ sinh phụ nữ có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH. 

Nên rửa sạch tay và cắt móng tay trước những ngày có kinh; khi rửa đưa tay từ phía trước về phía sau chứ không đưa tay từ phía sau về trước. Không đưa tay thụt rửa hay làm cho nước vệ sinh vào sâu trong âm đạo; rửa xong nên dùng khăn bông khô sạch thấm nhẹ nhàng. 

Nếu bạn dùng bằng vải xô thì cần ngâm xà phòng và giặt thật sạch, phơi ở nơi có nắng, ít bụi là tốt nhất. Ngoài ra cần chú ý ăn uống điều độ, đủ chất. Tránh chạy nhảy hoặc lao động nặng trong những ngày có kinh. 

Những hiểu biết cũng như ý thức giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ giúp người phụ nữ cảm thấy thoải mái hơn và phòng tránh được những viêm nhiễm đường sinh dục do thiếu vệ sinh gây ra. 


Bác sĩ Thúy An

Xem thêm các bài viết liên quan:

>>> Phòng chống viêm đường tiết niệu ở phụ nữ

Click đọc ngay…

Hãy dừng lại nếu không muốn "hại thận"

15:04 |
Suy thận khiến cơ thể bị “ngộ độc” liên tục từ bên trong. Cách tốt nhất để đừng suy thận là bảo vệ trái (quả) thận khi nó còn khỏe. 

Với khoảng 2 triệu đơn vị nhỏ li ti có tên là cầu thận, nhiệm vụ chính của trái thận là lọc máu bằng cách thải phế phẩm trong máu qua đường tiểu và giữ lại cho cơ thể chất còn dùng được. 

Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn như chấn thương, viêm tấy, xuất huyết, bội nhiễm… khiến phần này không thể vận hành như mong muốn thì các chất thải như urê, creatinin, axít uric… tích lũy trong máu rồi vượt quá định mức bình thường. Suy thận khi đó thành hình. Lúc này, nạn nhân chỉ còn trông mong vào chiếc máy lọc thận. 


Mối nguy chạy theo lời đồn 

Thận thường bị đồng hóa với chức năng tiểu tiện. Đúng nhưng chỉ phản ánh một phần rất nhỏ về khả năng đa dạng của trái thận. Thông qua chức năng bài tiết phế phẩm và tái hấp thu dưỡng chất, thận không ngừng lọc máu và điều chỉnh lượng nước trong cơ thể. 

Bên cạnh đó, thận tham gia tiến trình biến dưỡng sinh tố D để chất vôi nhờ đó ở lại trong mô xương thay vì thất thoát qua đường tiểu. Thận đồng thời phóng thích nhiều nội tiết tố quan trọng như erythropoetin để tạo hồng cầu, renin để điều chỉnh huyết áp… Chính vì thế mà bệnh thận không chỉ dẫn đến rối loạn chức năng tiểu tiện mà còn mở ngỏ cho cao huyết áp, thiếu máu, bệnh gút…! 

Có thể nói, bối cảnh y tế ở xứ mình chính là các yếu tố đòn bẩy cho bệnh thận nhưng lại ít khi được lưu ý đúng mức. Đó là: Viêm cầu thận cấp không được điều trị đến nơi đến chốn, phần lớn ở trẻ con vùng sâu, vùng xa; đái tháo đường không được phát hiện vì thiếu biện pháp tầm soát hoặc tuy đã biết nhưng không được điều trị đúng bài bản; lạm dụng thuốc giảm đau do tự chẩn đoán không cần thầy thuốc lại thêm mua thuốc bất cần toa; đáng báo động là tình trạng bệnh nhân thay vì dùng thuốc đặc hiệu lại chạy theo lời đồn kiểu “uống cây thuốc gì đó hết luôn bệnh đái tháo đường”. 

Bệnh thận ít khi có dấu hiệu báo động trước khi đi đến giai đoạn suy thận, hay nếu có lại mơ hồ khiến bệnh nhân và thậm chí cả một số thầy thuốc cũng thờ ơ với trái thận. Quả là đáng tiếc vì việc kiểm soát chức năng thận lại tương đối đơn giản với phương tiện chẩn đoán hiện nay. 

Tự mình hại thận 

Thận không vô cớ bỗng suy trong ngày một ngày hai. Trái lại, đó thường là hậu quả do việc đối xử không công bằng với trái thận, thể hiện qua nếp sinh hoạt: 

Rượu bia, độc tố thức ăn môi trường là nguyên nhân hàng đầu gây thận hư

- Mạnh miệng với rượu bia, thuốc lá. 

- Dùng thuốc giảm đau thường hơn cơm bữa. 

- Không theo dõi huyết áp định kỳ. Không điều trị đến nơi đến chốn mà chỉ dùng thuốc theo kiểu mỗi tháng vài ngày. 

- Quá hạp khẩu với chất đạm động vật trong chế độ dinh dưỡng thường ngày. Tự đầu độc bằng phốt-phát trong nước ngọt có gaz, thịt xông khói, lạp xưởng, sữa đặc có đường… 

- Ăn quá mặn mà quên uống nước cho đủ trong bữa ăn, trong giờ làm việc; không uống bù nước khi đổ mồ hôi. Uống nước không đủ 2,5 lít/ngày vì định kiến uống nhiều hại thận hoặc vì sợ tiểu đêm. 

- Không tầm soát đường huyết và mỡ máu. Đừng quên 25% suy thận là di chứng của bệnh đái tháo đường, 40% là do xơ vữa mạch máu. Béo phì nhưng không chịu vận động để giảm cân. 

Biết là nếu không may mất đi một trái thận thì người ta vẫn có thể sống đến cuối đời với trái thận còn lại nhưng nói thế không có nghĩa là ỷ y theo kiểu mất một còn một. Trái lại, hễ thận suy thường suy cả hai. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay! 

Ai chưa biết suy thận khổ đến thế nào xin thử hỏi người phải vài ngày lọc thận một lần. Bên cạnh gánh nặng tài chính, lọc thận chỉ là giải pháp chữa cháy. Ấy thế mà khi bàn chuyện phòng bệnh, chẳng mấy ai nghĩ đến trái thận một đời tận tụy. 

Ai nên khám thận? 

Nên khám thận khi phát hiện các dấu hiệu dưới đây: 

- Đau lưng âm ỉ ở vùng bẹ sườn dù không vận động nặng. Cơn đau quặn lan xuống bọng đái dù không mắc tiểu. Tiểu ra máu. 

- Nặng mí mắt khi thức dậy. Mắt quầng thâm dù ngủ đủ. Phù mắt cá dù ngồi yên nhiều giờ. Tê bàn tay, bàn chân. 

- Biếng ăn kéo dài. Buồn nôn không liên quan đến bữa ăn. Hôi miệng. - Đau đầu sau vài giờ làm việc. Mệt mỏi dù không lao tâm lao lực. 

- Ngứa ngoài da dù đã dùng thuốc chống dị ứng. Rụng tóc, gãy móng tay. 


Theo Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 
Người lao động
Click đọc ngay…

Giảm ăn oxalat phòng chống sỏi thận

10:30 |
Có nhiều loại sỏi thận và tuỳ vào thể trạng mà bạn sẽ dễ bị loại sỏi nào. Với người có nguy cơ bị sỏi oxalate thì chế độ ăn sẽ giúp phòng ngừa sỏi thận hiệu quả. Vậy chế độ ăn như thế nào là ít oxalate? 

Oxalate và sỏi thận 

Axit oxalic hay oxalat được hấp thu từ chế độ ăn được lọc và đào thải gần như hoàn toàn qua nước tiểu. Tuy nhiên, nếu nồng độ nước tiểu trở nên quá cô đặc hoặc quá axit, oxalat trong nước tiểu sẽ phân hủy, kết tủa với ion canxi và tạo thành sỏi. 

Không nên ăn quá nhiều các thực phẩm giàu vitamin C

Đối với thực vật, oxalate giúp giải phóng canxi dư thừa bằng cách liên kết với oxalate. Đó là lý do tại sao nhiều thực vật chứa lượng oxalate cao. Đối với cơ thể người, oxalate được sản xuất trong gan trong quá trình trao đổi glyco hoặc có nguồn gốc từ thực phẩm và không có vai trò gì trong cơ thể người. 

Cơ thể chúng ta tiêu thụ oxalate như thế nào? 

Khi chúng ta ăn thức ăn chứa oxalate, các phân tử này sẽ đi qua đường tiêu hóa và được bài tiết ra ngoài như một chất thải. Khi đi qua ruột, oxalate có thể kết hợp với canxi tạo thành hợp chất canxi oxalate và được bài tiết trong chất thải. Tuy nhiên, khi có quá nhiều oxalate trong thận thì có thể dẫn đến bệnh sỏi thận. Sỏi thận canxi-oxalate là loại sỏi phổ biến nhất. Cơ thể càng có nhiều oxalate thì nguy cơ bị sỏi thận càng cao. 

Nguyên nhân làm tăng oxalate 

Thực phẩm giàu vitamin C có khả năng làm tăng lượng oxalate trong cơ thể. Vitamin C chuyển hóa thành oxalate, và nếu cơ thể nạp hơn 1000mg vitamin C một ngày thì sẽ làm oxalate trong cơ thể tăng cao. Uống thuốc kháng sinh hoặc có tiền sử về bệnh tiêu hóa cũng làm tăng lượng oxalate trong cơ thể. 

Các vi khuẩn tốt trong đường ruột giúp giải phóng bớt lượng oxalate trong cơ thể và do đó khi lượng vi khuẩn này thấp đi thì cơ thể sẽ phải hấp thụ một lượng oxalate cao hơn. 

Như thế nào là chế độ ăn ít oxalate? 

Đối với những người bị sỏi thận hoặc có nguy cơ bị sỏi thận cao nên thực hiện chế độ ăn ít oxalate để giảm nguy cơ này. Đo lường lượng oxalate có trong thực phẩm thường rất khó chính xác bởi vì nó còn tùy thuộc vào thực phẩm đó được thu hoạch khi nào, được trồng ở đâu. 

Ngoài ra, lượng oxalate cũng có thể khác nhau tùy theo cách đo lường do đó cùng một loại thực phẩm có thể có các chỉ số oxalate khác nhau. Vì vậy, nhìn chung người ta chỉ ghi nhận oxalate có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. 

Thực phẩm giàu oxalate bao gồm trái cây, rau xanh, các loại đậu, các loại hạt và ngũ cốc. Các loại trái cây chứa nhiều oxalate bao gồm các loại quả mọng, kiwi, nho tím. Các loại rau chứa nhiều oxalate bao gồm đậu bắp, tỏi tây, rau bina, củ cải, …

Để giảm lượng oxalate đưa vào cơ thể, cần tránh ăn hạnh nhân, hạt điều, đậu phụng cũng như các loại đậu. Ngoài ra, sô cô la, ca cao và trà cũng là những thực phẩm có lượng oxalate cao. 

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đây cho thấy ăn nhiều thức ăn giàu canxi kèm với thức ăn giàu oxalate tốt hơn là loại oxalate ra khỏi chế độ ăn hàng ngày. Bởi vì trong quá trình tiêu hóa, oxalate và canxi sẽ kết hợp với nhau trước khi đến thận, làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận. Vì vậy thiếu canxi có thể làm tăng lượng oxalate đến thận và do đó tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. 


Bổ sung thêm canxi khi ăn nhiều thực phẩm oxalate giúp làm giảm lượng oxalate trong đường niệu. Chọn các thực phẩm giàu canxi như sữa, yogurt, phô mai hoặc các loại rau như súp lơ, cải xoăn, cải xoong, đậu bặp để làm tăng lượng canxi vào cơ thể. Các cây họ đậu như đậu đỏ, đậu xanh, quả óc chó hay cá hồi cũng chứa khá nhiều canxi. 

Để giảm nguy cơ sỏi thận, hãy thêm các thực phẩm giàu canxi nếu chế độ ăn hiện tại của bạn có nhiều thực phẩm oxalate cao. Chẳng hạn, nếu bạn ăn mầm lúa mì với bột yến mạch, hãy nhớ thêm vào một ít sữa. Nếu bạn thèm ăn sinh tố quả kiwi, hãy nhớ thêm vào một ít sữa để cân bằng. 

Làm giảm lượng muối vào cơ thể cũng có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận bởi vì chế độ ăn nhiều muối thường khiến canxi mất đi theo đường niệu. Càng nhiều canxi và oxalate ở thận thì nguy cơ sỏi thận càng tăng.

Xem thêm bài viết liên quan:
>>> Nguyên nhân sỏi đường tiết niệu 

>>> Cơn đau quặn thận, bệnh dễ nhầm

>>> Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ sỏi tiết niệu 

Click đọc ngay…

Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ sỏi tiết niệu

21:12 |
Để bù lại cái nắng nóng ngày hè, cơ thể con người thích nghi bằng cách tăng tiết thải mồ hôi để vừa mát da, hạ nhiệt độ cơ thể xuống và tăng thở ra hơi nước. Nếu không bù lại nước và muối khoáng qua đường uống, lượng nước tiểu sẽ giảm xuống và nguy cơ sỏi đường tiết niệu tăng lên….. 

Xuất nhập nước luôn cân bằng động 

Hằng ngày mức cân bằng của lượng nước trong cơ thể người lớn khoảng ba lít rưỡi. Nước vào cơ thể do ăn uống và chuyển hóa sinh ra; lượng thu vào này luôn luôn “cân bằng động” (homeostasis) với lượng thải ra qua nước tiểu, hơi thở, mồ hôi và phân. 


Mùa nắng hơi thở và mồ hôi nhiều thì nước tiểu ít lại và mùa đông thì ngược lại nước chủ yếu thái qua đường tiểu và phân. 

Tại sao miền người miền Nam nhiều sỏi thận hơn? 

Sự tạo sỏi sẽ dễ dàng hơn khi số lượng tinh thể trong nước tiểu nhiều và lượng nước tiểu để hòa tan lại quá ít không tương xứng. Vào mùa hè thời tiết khô và nóng bức, con người sẽ thải nước ra ngoài chủ yếu qua dạng mồ hôi và hơi thở, do đó lượng nước thải ra đường tiểu ít đi. Đây là lời giải khoa học vì sao tỉ lệ sỏi niệu ở miền Nam cao hơn miền Bắc. 

Kết quả này phù hợp với các thăm dò niệu học của cố GS Ngô Gia Hy và cộng sự đã tiến hành. GS Hy lý giải rằng miền Nam khí hậu nóng hơn nên nước thải ra thường ở dạng mồ hôi và hơi thở nhiều hơn hẳn, ở miền Bắc có gió mùa lạnh lẽo nên chủ yếu đi tiểu nhiều nên nguy cơ sỏi thận ít hơn. 

Điều này tương tự như bí quyết sản xuất bột sắn (bột lọc). Đó là trong giai đoạn tinh lọc bột, nông dân phải khuấy dung dịch bột sắn và cho lắng gạn nhiều lần. Nếu cho quá nhiều nước vào bột sẽ không lắng đọng được như ý, ngược lại cho quá ít nước lại không đủ để hòa tan. 

Sỏi hệ niệu cũng sinh ra theo cơ chế tương tự: nhiều nước khó kết sỏi và ngược lại. 

Ăn ít khoáng, uống nhiều nước ngừa sỏi thận 

Tuy sỏi thận là một bệnh chuyển hóa khá phổ biến ở nước ta về tần suất mắc bệnh lẫn tỉ lệ tái phát, nhưng cũng khá dễ ngăn ngừa và chống tái phát. Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới phác đồ điều trị và ngừa tái phát sỏi thận đều rất đơn giản gồm: 


1. Uống thật nhiều nước: Đây là phương cách chính để phòng ngừa sỏi thận. Có thể uống nước lọc, nước sôi để nguội, nước suối, nước giải khát và cả uống bia. 

Uống nhiều nước đầu vào thì đương nhiên sẽ tăng lượng nước tiểu thải ra. Khi lượng nước tiểu tăng lên, các tinh thể sỏi không thể kết dính thành cục sỏi được. Đặc biệt, khi uống nước chanh, nước cam, nhiều muối citrate sẽ được thải ra trong nước tiểu, ngăn cản sự hình thành sỏi thận. 

2. Tránh ăn thực phẩm quá giàu oxalate, purine...: Các nhóm thức ăn có chứa nhiều gốc oxalate, purine hay nhiều đạm sẽ làm dễ hơn quá trình tạo ra sỏi thận như cải bó xôi, củ cải đường, sôcôla, đậu bắp, thịt nội tạng, thịt đỏ... Tránh uống quá nhiều vitamin C (viên canxi C), nước khoáng giàu carbonate... 

3. Dùng thêm thuốc hỗ trợ: Chủ yếu là lợi tiểu và thuốc chữa các bệnh có xu hướng dễ gây sỏi thận như bệnh gout, hội chứng chuyển hóa... Kim tiền thảo, mã đề, râu ngô… cũng để tăng lượng nước tiểu lên... 

4. Không hạn chế thực phẩm giàu canxi: Trước đây, khi phân tích thành phần hóa học của sỏi thận người ta thấy đa số là sỏi canxi-oxalate. Vì thế có ý kiến cho là phải hạn chế canxi trong thực phẩm để ngừa sỏi. Nhưng khá nhiều công trình khoa học nghiêm túc cho thấy quan niệm sai lầm. 

Canxi trong thực phẩm sẽ kết hợp với oxalate tạo thành phức hợp calcioxalate không hòa tan và không thể hấp thu vào máu, nên sẽ được thải theo phân ra ngoài và dĩ nhiên giúp ngừa sỏi thận. Tương tự, khi ăn quá nhiều oxalate mà không đủ lượng canxi tương ứng, oxalate được hấp thu vào máu sẽ thải ra thận cũng gây nguy cơ sỏi thận. 

Chú ý: Vitamin C (axit ascorbic) cũng có khả năng chuyển hóa thành gốc oxalate. Nếu chúng ta dùng thực phẩm giàu vitamin C (hơn 1000mg vitamin C/ ngày) nguy cơ chất oxalate trong máu sẽ cao và khả năng sỏi thận cũng lớn hơn. 


TS.BS Trần Bá Thoại 
Ủy viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam
Click đọc ngay…

Rối loạn tiền đình, nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

10:09 |
Hệ thống tiền đình có vai trò quan trọng trong việc giữ thăng bằng, duy trì tư thế, phối hợp các cử động của mắt, đầu, thân mình. Khi bị rối loạn tiền đình (RLTĐ) sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. 

Rối loạn tiền đình là gì? 

Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính: mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương (cảm giác sâu). 


Bộ phận mê đạo và tiền đình ở tai trong có trách nhiệm cung cấp tín hiệu cho não bộ các cảm giác về tư thế và các chuyển động của cơ thể được các bộ phận này ghi nhận. Sau đó não bộ tiếp nhận, phân tích, phối hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không bắt được các tín hiệu này hoặc các tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng. 

Rối loạn tiền đình là bệnh lý gây ra một trạng thái mất cân bằng về tư thế làm cho người bệnh thường xuyên bị chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn, đi đứng lảo đảo... gây khó chịu. Bệnh rất hay tái phát, từ đó làm ảnh hưởng đến công việc, nhất là ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. 

Say sóng khi đi tàu, chóng mặt khi ngồi xe là do cơ chế này. Ngồi trong máy bay, khi gặp gió bão, máy bay chòng chành, tuy ta không nhìn thấy được sự thay đổi bên ngoài, nhưng bộ phận tai trong tiếp nhận được sự dao động, ta cảm thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày… 

Nguyên nhân và triệu chứng rối loạn tiền đình

Rối loạn tiền đình không phải là một bệnh mà là một hội chứng, báo hiệu nguy cơ của một bệnh lý nào đó với các biểu hiện như mất thăng bằng, buồn nôn, nôn, chóng mặt. Thường thì bệnh nhân mô tả chung chung, mơ hồ về mức độ nặng, nhẹ, thời gian mắc bệnh... 

Một số than phiền thường gặp là mất thăng bằng, đi không vững, cảm giác chóng mặt, mọi vật chung quanh đang quay hay di động; đầu lâng lâng, muốn ngã, xỉu, yếu, mệt, kém tập trung; mắt mờ khi quay cổ hay cử động đầu, buồn nôn, ói mửa… Các triệu chứng bất thường trong thời gian ngắn hoặc lâu hơn. 

Dựa vào vị trí tổn thương của hệ tiền đình, người ta chia làm hai loại: RLTĐ (hội chứng tiền đình) ngoại biên và trung ương. 

Hội chứng tiền đình ngoại biên: Do tổn thương tai trong hay thần kinh số VIII, xuất phát từ các nguyên nhân như: viêm tai xương chũm mạn tính, do dùng các thuốc có độc tính gây tổn thương tiền đình như thuốc kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau, rượu... 

Thường gặp với biểu hiện như chóng mặt khi thay đổi tư thế. Đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt nhưng vẫn còn đi đứng được. Cơn chóng mặt thường thoáng qua chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn, chúng xuất hiện khi thay đổi tư thế như lắc đầu, từ tư thế nằm chuyển sang ngồi. Bệnh thường xảy ra sau chấn thương vùng đầu. 

Ngoài ra bệnh lý thoái hóa cột sống cổ gây cản trở mạch máu ở hệ đốt sống thân nền cũng là nguyên nhân gây nên RLTĐ ngoại biên. RLTĐ ngoại biên còn có thể có biểu hiện tình trạng chóng mặt nặng và kéo dài, người bệnh không thể đi đứng được, không thể thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi. 

Đặc biệt cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai. Người bệnh còn có thể kèm theo tình trạng nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng... 


Hội chứng tiền đình trung ương: Do tổn thương các nhân tiền đình hay các đường liên hệ của nhân này trong thân não. Đây là bệnh lý thường gặp nhất với những biểu hiện của tình trạng thiểu năng tuần hoàn não. Người bệnh đi đứng khó khăn. Khi thay đổi tư thế người bệnh bị choáng váng, chóng mặt, đôi khi khó tập trung, mau quên, thỉnh thoảng kèm theo nôn ói. 

Hội chứng tiền đình trung ương là do có sự tổn thương nhân tiền đình, tổn thương đường liên hệ của các nhân dây tiền đình ở thân não, tiểu não. Nguyên nhân có thể là do động mạch mang máu đến nuôi não bộ bị thiểu năng bởi tình trạng xơ mỡ động mạch, hạ huyết áp tư thế, thoái hoá cột sống cổ làm chèn ép mạch máu… 

Khi có những triệu chứng như chóng mặt, ù tai, đi đứng không vững, nghi ngờ bệnh lý RLTĐ, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được khám và xác định chính xác nguyên nhân để từ đó có hướng chữa trị thích hợp, và càng sớm càng tốt. 

Ai dễ mắc bệnh? 

Rối loạn tiền đình rất dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, những người ngồi nhiều trong phòng lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy vi tính. Vì ngồi nhiều trong phòng lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh dễ làm co cứng các cơ cạnh đốt sống cổ, gây chèn ép các mạch đốt sống, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi vùng não bộ gây ra bệnh rối loạn tiền đình. 

Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát. Do đó, để phòng ngừa bệnh rối loạn tiền đình, tránh tái phát bệnh chúng ta cần tránh ngồi nhiều trong phòng lạnh, tránh ngồi lâu trước máy vi tính, không nên ngồi lâu khi làm việc văn phòng. Ngoài ra, người làm việc trong môi trường ồn ào, áp lực trong công việc, cuộc sống... nhất là những người phải làm việc một chỗ, không gian kín, ít di chuyển, ít vận động. 

Các bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ nặng chèn ép động mạch đốt sống gây thiếu máu vận chuyển nuôi vùng não thuộc hệ sống nền như thân não, tiểu não, dẫn đến RLTĐ. Thay đổi thời tiết, rối loạn nội tiết tuổi tiền mãn kinh, người cao tuổi có bệnh lý tăng huyết áp, vữa xơ động mạch… cũng là những yếu tố nguy cơ mắc phải hội chứng này. 

Điều trị bệnh rối loạn tiền đình thế nào? 

Rối loạn tiền đình là một hội chứng, không phải là một bệnh lý nên không có thuốc điều trị đặc hiệu. Cần phải tìm nguyên nhân gây ra hội chứng này để điều trị căn nguyên. Trong mọi trường hợp, khi xảy ra chóng mặt cấp tính, triệu chứng hay gặp của hội chứng tiền đình cần phải điều trị triệu chứng vì cho dù các cơn chóng mặt có thể tự khỏi nhưng bệnh nhân rất khó chịu và sợ hãi vì các triệu chứng này. 

Dùng thuốc: Việc sử dụng thuốc phải được tư vấn của các bác sĩ lâm sàng. Một số thuốc sau đây đã được đánh giá tốt như: các thuốc thuộc nhóm kháng histamin như: promethazine, dimenhydrinate, scopolamine… Các thuốc này làm giảm ngay triệu chứng chóng mặt, chống nôn nhưng tác dụng phụ là buồn ngủ ngây ngất. 

Có thể dùng thuốc làm giảm chóng mặt, buồn nôn như acetylleucin. Nhóm thuốc ức chế calci: cinnarizin, flunarizin; nhóm benzodiazepines (diazepam): làm giảm lo lắng, an thần. Ngoài ra, cần điều trị hỗ trợ, tăng tuần hoàn não: (gingkor giloba, piracetam…). 


Dự phòng cơn chóng mặt kịch phát: Tránh những tư thế gây chóng mặt, uống đủ nước mỗi ngày, tránh dùng những thức ăn - uống ngọt quá hay mặn quá sẽ làm tăng thể tích dịch của cơ thể và tai trong, vì khi có sự thay đổi về thể tích dịch trong thành phần của tai trong (tăng hay giảm) có thể gây khởi phát cơn chóng mặt. Tránh uống cafe hay thức uống có cồn vì sẽ làm ù tai nặng hơn, gây lợi tiểu mất nước. 

Tránh những loại thực phẩm có chứa acid amin tyramine vì có thể gây khởi phát bệnh Migraine (thể nhức đầu kèm chóng mặt) như: rượu vang đỏ, gan gà, thịt xông khói, sữa chua, chocolate, chuối, cam, quýt, sung, phô mai, các loại hạt... 

Tránh một số thuốc có thể làm nặng thêm các triệu chứng rối loạn tiền đình như: aspirin làm ù tai nhiều hơn, steroids gây giữ nước làm rối loạn điện giải; chất nicotin trong thuốc lá gây biến chứng vữa xơ hẹp mạch máu, làm tăng huyết áp, giảm máu đến vùng tai trong. 

Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính; tránh quay cổ hoặc đứng lên, ngồi xuống quá nhanh; tránh leo trèo cao, tránh đọc sách báo khi đang ngồi xe; tránh căng thẳng, lo âu, hoảng hốt... thái quá; nên ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt. 

Hợp tác tốt với thầy thuốc để được điều trị tốt: Mặc dù chóng mặt ít khi là triệu chứng của bệnh lý trầm trọng, nhưng nếu thấy xuất hiện một trong những triệu chứng sau đây thì nên đến gặp bác sĩ ngay để được khám và xác định nguyên nhân: chóng mặt kèm đau đầu đột ngột; mờ mắt, nhìn không rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực, giảm thính giác, mất định hướng thời gian, không gian, nói khó khăn, chóng mặt, lảo đảo, muốn té... đau tức ngực, nhịp tim bất thường. 

Các triệu chứng đó có thể là báo hiệu cho những bệnh lý nặng như: u não, đột qu ỵ não, bệnh Parkinson, bệnh tim mạch, bệnh đa xơ cứng. 

Điều trị RLTĐ ngày nay chủ yếu là điều trị nội khoa và hoàn toàn phải do bác sĩ chỉ định về chế độ thuốc men và thời gian dùng thuốc. Tuyệt đối người bệnh không được tự ý điều trị hoặc điều trị không tuân thủ chế độ y lệnh của bác sĩ. 


PGS.TS. Nguyễn Hoàng Ngọc
Click đọc ngay…