Bé đi ngoài xì xoẹt, hoa cà hoa cải: xử trí thế nào?

17:04 |
Bé đi ngoài xì xoẹt ngày 6-7 lần, phân ra toàn bọt, hoa cà hoa cải, “đánh hơi” cũng ra kèm chút nước vàng… khiến các bà mẹ lo lắng. Tình huống bí bách, cho con uống đủ loại men vi sinh, thậm chí cả kháng sinh, thuốc cam vẫn không hiệu quả, nhiều trường hợp còn gây ngộ độc nguy kịch. 

Bé đại tiện 6 - 7 lần một ngày có phải đi ngoài? 

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi BV Bạch Mai cho biết, câu hỏi ông nhận được nhiều nhất ở các bà mẹ vừa sinh con là: “Vì sao bé lại đi ngoài hoa cà hoa cải, xì xoẹt 5 - 7 lần ngày”, “Bé đi ngoài toàn bọt, có phải sữa mẹ nóng không”, “Bé đánh hơi cũng ra nước vàng, tè cũng ra tí ở hậu môn”, “Sao dùng men tiêu hóa, thậm chí kháng sinh rồi mà con vẫn không khỏi”… 

Trẻ đi ngoài xì xoẹt, phân hoa cà hoa cải khiến mẹ rất lo lắng

Theo BS Dũng, sự băn khoăn của các bà mẹ là dễ hiểu bởi trong suy nghĩ của họ, trẻ như vậy là bị đi ngoài và cần điều trị. 

“Nói theo sách vở, người lớn, trẻ lớn bình thường ngày đi đại tiện một lần và cho là tiêu chảy nếu đi ngoài đi từ 3 lần trở lên trong một ngày. Nhưng với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì hoàn toàn khác, áp theo định nghĩa này sẽ hoàn toàn sai. Đặc biệt ở nhóm trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ đang bú mẹ lại càng không đúng. Ở nhóm trẻ đang bú mẹ này, không ăn thêm thức ăn nào khác thì có cháu đi một ngày 5-7 lần, phân đôi khi có nước, hoa cà, hoa cải, bọt cũng hoàn toàn bình thường, không phải bị tiêu chảy”, TS Dũng khẳng định. 

TS Dũng cho biết, ở mỗi trẻ có tần số đi ngoài khác nhau, có trẻ 1 lần/ngày, trẻ 3 – 4 lần, có trẻ 5 – 7 lần nhưng nếu trẻ không sốt, bú bình thường, ngủ bình thường, vẫn lên cân thì cha mẹ hoàn toàn yên tâm, không cần can thiệp xét nghiệm, không cần uống men tiêu hóa mà chính đường tiêu hóa của trẻ sẽ tự điều chỉnh dần. Bởi việc uống men, kháng sinh, hay thuốc cam như dân gian hay dùng vẫn không thể giảm được số lần đi ngoài của trẻ. 

TS Dũng dẫn chứng một trường hợp bệnh nhi 2 tháng tuổi Nguyễn Duy Anh (Hợp Châu, Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đang điều trị tại khoa vì ngộ độc chì. Trước đó, sau sinh bé có hiện tượng đi ngoài bọt liên tục 5 – 6 lần/ngày nên mẹ bé đã mua men tiêu hóa cho con uống liền trong 10 ngày nhưng bé vẫn đi ngoài bọt với số lần như trên, không hề giảm. Tiếp đó, mẹ bé mua thuốc cam, pha nước cho con uống, mẹ ăn bã để chữa đi ngoài, nhưng sau ba ngày dùng thuốc tình trạng đi ngoài bọt của bé vẫn giữ nguyên. 

“Điều đó chứng tỏ mọi cố gắng can thiệp vào sinh lý bình thường của trẻ là không cần thiết và không hiệu quả. Chúng ta không thể dùng men tiêu hóa, kháng sinh, thuốc cam… để “chỉnh” cho bé thay vì đi ngoài xì xoẹt ngày 5 – 7 lần xuống còn 1 – 2 lần. 

Điều đó là không cần thiết vì đó là sinh lý bình thường của trẻ, trẻ vẫn ăn, vẫn lớn. Còn can thiệp vừa không hiệu quả vừa gây hậu quả cho bé, khiến bé từ đứa trẻ bình thường, lành lặn, khỏe mạnh trở thành đứa trẻ ốm yếu, có nguy cơ ảnh hưởng sự phát triển trí tuệ như bệnh nhi trên bởi mẹ cho bé uống thuốc cam và bị ngộ độc chì”, TS Dũng nói. 

Không tự ý dùng thuốc cho trẻ nếu không cần thiết

TS Dũng cũng thẳng thắn thừa nhận, không chỉ các bà mẹ hiểu không đúng về hiện tượng đi ngoài nhiều của trẻ, nghĩ rằng trẻ bị rối loạn tiêu hóa mà nhiều bác sĩ cũng có sự nhầm lẫn này. Bởi hiện nay, các bác sĩ nhi không được đào tạo từ đầu chí cuối như trước mà đa phần từ đa khoa chuyển sang học thêm nhi. Từ đó, các em vẫn mang những kiến thức của đa khoa sang, nguy hiểm vì khám trẻ như khám cho người lớn, trong khi trẻ không phải là người lớn thu nhỏ. 

Thêm loạn khuẩn đường ruột vì thuốc 

Vì hiểu sai về tiêu chảy, rối loạn ở trẻ em, nhiều người mang phân con đi xét nghiệm để rồi hoảng hồn cầm trên tay kết quả xét nghiệm có dương tính với nấm, chắc mẩm con mình bị tiêu chảy do nấm và uống kháng sinh. 

“Phải hiểu rằng, trong phân luôn có nấm, vấn đề là xác định nấm đó có gây bệnh không, nếu không mà cứ cho thuốc chống nấm thì rất nguy hiểm vì đây là sinh lý bình thường của trẻ bú mẹ. Mà để xác định nấm đó có phải là nguyên nhân gây ra tình trạng của con, người bác sĩ không chỉ dựa vào kết quả xét nghiệm mà phải khám tổng thể đứa trẻ, xem trẻ có ăn, ngủ, lớn bình thường không rồi mới quyết định. Các bà mẹ không hiểu bản chất cứ thấy nấm rồi vội chữa là hoàn toàn sai. Càng uống nhiều loại thuốc càng hại người, cả men, kháng sinh khi uống không đúng chỉ định đều gây loạn khuẩn đường ruột”, TS Dũng nói. 

Hay như với nhiều người, sau khi dùng tây y không đỡ thì chuyển sang Đông y, sử dụng thuốc cam mà không biết nó có chứa chì hay không, nhiều trường hợp trong số đó, tiền mất và mang lại tật cho con vì ngộ độc chì. Vì thế, khi con có những dấu hiệu đường tiêu hóa trên hay bất cứ các dấu hiệu gì khác mà người mẹ cảm thấy không bình thường, bất an hãy nên đưa trẻ đi khám bác sĩ. Bác sĩ là người phân tích, tổng hợp các triệu chứng để đưa ra chẩn đoán trẻ bị bệnh hay chỉ là sinh lý bình thường, tuyệt đối không tùy tiện dùng thuốc cho trẻ, tránh dẫn đến tiền thì mất, tật mang thêm.
Click đọc ngay…

Trẻ sơ sinh ngủ ở tư thế nào là tốt nhất

15:24 |
Khi đặt trẻ nằm ở tư thế ngửa, cha mẹ chú ý gấp một chiếc khăn mỏng làm gối dưới vai bé mà không đặt ở đầu, để đường thở của trẻ được thẳng. 

Trẻ sơ sinh chưa tự thay đổi tư thế được, người lớn cần giúp bé thay đổi tư thế tạo cảm giác thoải mái, an toàn cho con. Tuy nhiên tư thế không đúng hoặc nằm lâu ở một tư thế sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như về thẩm mỹ của trẻ. Vì thế, cha mẹ nên xen kẽ các tư thế đặt cho bé. 

Mục đích là tránh biến dạng ở đầu, giúp trẻ phát triển đồng đều cả hai bên cơ thể, ngăn hình thành và ứ đọng dịch tiết (đặc biệt với trẻ ốm.) 

Tư thế nằm ngửa: 


Đây là tư thế tự nhiên. 

Cách đặt trẻ: 

- Hai tay mở ngang, cẳng tay và bàn tay hướng lên trên đầu, cuộn một chiếc khăn tắm lớn tạo thành ổ cuốn, gấp khăn mỏng làm gối đặt dưới vai trẻ (không đặt ở đầu) để đường thở của trẻ được thẳng. 

- Đặt trẻ vào ổ sao cho ổ cuốn ôm sát vào người, đặt chân bé gập sát thân mình và bàn chân chạm vào mặt trong của vòng khăn, tay đặt ở giữa ngực và gần với mặt như nằm trong bụng mẹ. 

Ưu điểm: 

- Giúp trẻ toàn thân thư giãn, thả lỏng, tạo cảm giác thoải mái. 

- Tạo cảm giác an toàn khi nằm ngửa, mũi miệng bé không gặp các chướng ngại vật cản trở đến quá trình hô hấp. 

- Không gây áp lực cho các cơ quan nội tạng như tim, phổi, dạ dày, đường ruột và bàng quang. 

- Thuận tiện chăm sóc. 

Nhược điểm 

- Nằm ngửa nhiều sẽ khiến đầu trẻ dễ bị bẹp. 

- Ở tư thế này, độ an toàn cho sức khỏe của trẻ cao, nhưng nằm ngửa không có vật gì chặn thì bé sẽ cảm thấy không có chỗ dựa. Khi trẻ bị ngạt mũi (viêm đường hô hấp trên) không nên để nằm ngửa. 

Tư thế nằm nghiêng: 


Đây là tư thế đem đến nhiều lợi ích mà các chuyên gia khuyên cha mẹ nên luyện tập cho trẻ quen. 

Cách đặt trẻ: Cho trẻ nằm nghiêng toàn thân về một bên, cuốn ổ đến ngực bé, tay chân ôm sát ổ cuốn. 

Ưu điểm: 

Tránh ngạt thở: Khi trẻ bất ngờ nôn trớ, tư thế nằm này giúp đẩy những thứ trong khoang miệng của bé ra ngoài nhanh chóng mà không chảy ngược vào trong; giúp trẻ không ngủ ngáy, thở khò khè khi ngủ. Nằm các tư thế khác trẻ có hiện tượng ngáy ngủ thì mẹ nên chuyển bé sang tư thế này. 

Nhược điểm: 

Dễ làm bẹp tai trẻ, trong khi nhiều người rất coi trọng hình dáng đôi tai. Cần chú ý là khi đặt nằm tư thế này không mặc cho trẻ những áo có cài cúc mà nên buộc dây một bên. 

Tư thế nằm sấp: 


Trẻ rất thích nằm sấp, vì có cảm giác ấm cúng, dễ chịu khi ngủ. 

Cách đặt trẻ: Đặt trẻ nằm sấp trên khăn bông mềm dày khoảng 4 cm dài 23 x 15cm hoặc 25 x 15cm sao cho bàn tay trẻ ôm vào khăn bông một cách thoải mái, không để hông và đùi gấp quá 90 độ. 

Ưu điểm: 

- Trẻ có cảm giác an toàn. Khi còn là bào thai nằm trong tử cung trẻ cũng có tư thế gần như vậy, đây là tư thế ngủ tự nhiên với bản năng tự bảo vệ của bé. 

- Hạn chế sự nôn trớ của trẻ. 

- Tư này cũng giúp trẻ nhanh phát triển hơn do thường xuyên phải luyện tập các động tác như lật người xoay người, ngẩng đầu. Bên cạnh đó chân tay của trẻ cũng nhanh cứng cáp hơn. 

Nhược điểm: 

- Dễ dẫn đến ngạt thở: Mặt trẻ có thể úp sấp xuống giường khi cổ mỏi không ngóc đầu lên được. 

- Dễ tích nhiệt và khó tản nhiệt, khiến nhiệt độ của cơ thể tăng cao hơn, mồ hôi ra nhiều. Bà mẹ cần chú ý và lau người cho trẻ. 

- Ở tư thế này khó quan sát trẻ hơn. 

Khuyến cáo: Chỉ cho trẻ nằm tư thế này khi theo dõi sát được bé. 

Bệnh viện Nhi Trung ương
Click đọc ngay…

Sốt phát ban dạng sởi, bệnh dễ nhầm

13:02 |
Hiện nay bệnh sởi đã bùng phát ở một số địa phương tại nước ta và một số nước khác trên thế giới. Một thuật ngữ được các nhà khoa học hay dùng bên cạnh bệnh nhân bị mắc bệnh sởi là sốt phát ban dạng sởi. 

Sốt phát ban dạng sởi thường được đề cập đến là bệnh sởi rubella, còn được gọi là bệnh sởi đức hay bệnh rubeol. Cần quan tâm đến bệnh này để phân biệt và xử trí phù hợp. 

Trên thực tế, bệnh sởi đức (german measle) không có liên quan gì đến nước Đức (German) mà chúng chỉ có nguồn gốc từ tiếng Latin “germanus” có nghĩa là tương tự với ý nghĩa mô tả bệnh rubella, bệnh rubeol có một số biểu hiện lâm sàng giống như bệnh sởi. 


Các thể bệnh lâm sàng 

Bệnh sởi đức diễn biến trên lâm sàng với 2 thể bệnh là thể thông thường và thể có biến chứng. Thể thông thường có 3 dấu hiệu sốt, nổi hạch, phát ban ngoài da và niêm mạc. 

Bệnh nhân sốt nhẹ dưới 38,5oC và hết sốt khi có phát ban. 

Triệu chứng phát ban không phải trường hợp nào cũng có, nếu bị phát ban thì thường nổi ban đỏ ở mặt trước và sau 24 giờ mới có ở toàn thân. Ban đỏ dạng sởi nhưng không để lại vết thâm và thường hết sau 3 ngày. Ban dạng nốt xuất huyết có thể ở niêm mạc vòm miệng, niêm mạc mắt, niêm mạc mũi. 

Thể có biến chứng hay gặp ở nam giới, trên đối tượng người lớn và thanh niên với các biến chứng khác nhau. Biến chứng viêm đa khớp thường xảy ra vào ngày thứ hai dễ nhầm lẫn với đợt thấp khớp dạng thấp tiến triển nhưng chúng tự khỏi sau từ 15 - 30 ngày và không để lại di chứng. 

Biến chứng tử ban với dấu hiệu nốt xuất huyết dưới da sau để lại vết thâm do hạ tiểu cầu nhưng rất hiếm; bệnh khỏi sau từ 2 - 4 tuần; dùng thuốc corticoides có thể có tác dụng, ít trường hợp phải truyền tiểu cầu. 

Biến chứng viêm não-mạng não hiếm gặp, thường xảy ra từ 2 - 4 ngày đầu sau khi nổi ban; có 3 dấu hiệu của viêm màng não như: đau đầu, nôn, cổ cứng và kèm theo dấu hiệu tổn thương não như rối loạn ý thức, liệt tay chân, rối loạn điều hòa vận động chân tay. 

Ngoài ra, còn có thể bệnh sởi đức hay bệnh rubella bẩm sinh có thể phát hiện sau khi trẻ sinh ra hoặc vài năm sau mới xuất hiện với các triệu chứng như: tổn thương mắt, đục thủy tinh thể hai bên, đục giác mạc, tai điếc, tổn thương thần kinh, chậm phát triển tinh thần, não bộ bé lại... 

Phân biệt với bệnh sởi 

Bệnh sởi đức hay bệnh sởi rubella, bệnh rubeol thường phát triển mạnh vào mùa đông xuân và xuất hiện từ nhiều năm nay ở nước ta nhưng ít được chú ý phát hiện do thời điểm bùng phát của chúng trùng hợp với thời gian phát triển bệnh sởi và thường được thống kê chung vào bệnh sởi hay sốt phát ban dạng sởi. 

Bệnh có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, sau thời gian ủ bệnh từ 12 - 23 ngày sẽ khởi phát với triệu chứng sốt nhẹ; còn những triệu chứng ho, chảy nước mắt và mũi, đi tiêu chảy... hầu như không phát hiện được. Khi bệnh toàn phát mới xuất hiện rõ các dấu hiệu: mệt mỏi, sốt, chảy nước bọt ở miệng và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. 

Nếu bệnh nhân là trẻ em thì trẻ ít khi nằm li bì; có dấu hiệu sung huyết ở mắt, da mặt, hạch sưng to ở dọc hai bên cổ và không đau. Các nốt ban đỏ nổi trên da dưới dạng những chấm đỏ mọc rải rác không theo tuần tự như ở bệnh sởi và bệnh nhân có thể thấy đau khớp. 

Khi bệnh lui thường người bệnh hết sốt, nốt ban đỏ bay nhanh không theo quy luật tuần tự như lúc mọc ban đầu và không để lại các dấu vết ở trên da, triệu chứng sưng hạch mất đi và trở về bình thường muộn hơn thường sau một tuần. 

Thực tế cho thấy, hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh sởi đức hay sởi rubella hiện nay thường xảy ra ở người lớn trẻ tuổi chưa có miễn dịch nhiều hơn là trẻ em. Các nhà khoa học ước tính có khoảng 10% số người lớn trẻ tuổi dễ mẫn cảm đối với bệnh, đặc biệt là phụ nữ có thể gây nguy hiểm cho những đứa con của họ ở vào một thời điểm nào đó khi mang thai. 

Đối với bệnh sởi, bệnh thường gặp ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên. Sau thời gian ủ bệnh từ 7 - 10 ngày, bệnh khởi phát trong vòng từ 2 - 3 ngày với các triệu chứng như sốt đột đột trên 38oC, chảy nhiều nước mắt làm mắt ướt lèm nhèm, chảy nước mũi và tiêu chảy... 

Khi bệnh toàn phát thì có triệu chứng sốt cao từ 38,5 - 39oC; bệnh nhân li bì, mệt mỏi; các ban đỏ của sởi mọc ở da nổi dày, mịn, xuất hiện ở sau tai, lan ra mặt, xuống cổ, thân mình và tứ chi trong vòng 1 - 2 ngày. Bệnh sẽ lui dần khi hết sốt, nốt ban đỏ bay mất dần theo trình tự mọc lúc ban đầu và thường để lại những vết thâm ở trên da. 

Đặc biệt, bệnh sởi thường để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc thoái lui như: viêm phổi, viêm phế quản, tiêu chảy mất nước... có thể dẫn đến tử vong nhất là trẻ em dưới 1 tuổi. Ngoài ra, biến chứng viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi, suy dinh dưỡng, viêm loét giác mạc, nhiễm lao và các bệnh nhiễm trùng khác... cũng được ghi nhận. 

Tiêm phòng là cách hữu hiệu phòng chống sốt phát ban

Phòng bệnh hơn chữa bệnh 

Ngoài các loại vắc-xin đơn giá phòng bệnh sởi và sởi rubella riêng biệt, thị trường hiện tại đã có những loại vắc-xin phối hợp phòng bệnh sởi, quai bị và rubella khá tiện dụng. 

Vắc-xin phối hợp sởi - quai bị - rubella có các loại như: vắc-xin MMR II (measle-mumps-rubella) là vắc-xin sống giảm độc lực với thời gian bảo vệ hơn 11 năm, vắc-xin Trimovax với thời gian bảo vệ hơn 10 năm. Vắc-xin MMR II được chỉ định tiêm cho trẻ từ 15 tháng tuổi trở lên, nên tiêm liều thứ hai bằng vắc-xin MMR II hoặc vắc-xin đơn giá. 

Tại những vùng mà bệnh sởi xuất hiện với tỉ lệ cao ở trẻ dưới 15 tháng tuổi thì có thể tiêm sớm hơn. Trẻ được tiêm vắc-xin khi chưa được 12 tháng tuổi thì cần được tiêm nhắc lại sau khi được 15 tháng tuổi. Hầu hết trẻ em từ 12 -14 tháng tuổi đã có đáp ứng miễn dịch nhưng có thể tiêm liều nhắc lại khi trẻ đến tuổi đi học hoặc muộn hơn. 

Những trẻ em chưa được tiêm vắc-xin sinh ra từ người mẹ mang thai mẫn cảm cần được tiêm vắc-xin rubella sống giảm độc lực. Những trẻ em cảm thụ với một hoặc nhiều bệnh của vắc-xin, cần được tiêm loại vắc-xin đơn giá sởi, quai bị, hoặc rubella hay một vắc-xin phối hợp phù hợp. 

Tuy nhiên trên thực tế, vắc-xin MMR II thích hợp đối với những người cảm thụ bệnh quai bị, rubella và sởi. Nếu không có vắc-xin đơn giá thì nên dùng vắc-xin phối hợp MMR II. Vắc-xin được tiêm vào dưới da và thường tiêm vào mặt ngoài phía trên của cánh tay, không được tiêm vào mạch máu. 

Vắc-xin này tiêm phòng giống nhau cho tất cả mọi lứa tuổi và đối tượng với liều 0,5ml vắc-xin đã hồi chỉnh. Cần chú ý không tiêm globulin miễn dịch đồng thời với tiêm vắc-xin MMR II. 

Vắc-xin Trimovaxđược chỉ định tiêm phòng sởi, quai bị, rubella cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Đối với những trẻ em ở môi trường đặc biệt như ở các trung tâm chăm sóc trẻ em thì có thể tiêm từ lúc 9 tháng tuổi. Thông thường tiêm một liều 0,5ml cho trẻ em từ 12 - 15 tháng tuổi. 

Tuy vậy đối với trẻ em tiêm mũi đầu tiên trước khi được 12 tháng tuổi thì nên tiêm một liều thứ hai sau mũi tiêm đầu tiên khoảng 6 tháng, nhất là những trẻ em sống trong môi trường đặc biệt. 

Vắc-xin MMR II hay vắc-xin Trimovax có thể nói là loại vắc-xin “3 trong 1” dùng để phòng ngừa được cả 3 bệnh sởi, quai bị và sởi rubella khá thuận lợi. 

Hiện nay, bệnh sởi đức hay sởi rubella và bệnh sởi thông thường có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin phòng bệnh. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, đó là biện pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho cá nhân lẫn cộng đồng mà người dân cần phải đặc biệt quan tâm. 


TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH 
Theo suc khoe doi song
Click đọc ngay…

Nhận biết và chăm sóc trẻ bị sốt phát ban tại nhà

10:42 |
Sốt phát ban (SPB) là bệnh rất thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 - 36 tháng tuổi. Đây là giai đoạn trẻ có sức đề kháng rất kém vì lượng kháng thể tự nhiên của mẹ truyền cho trẻ đã giảm xuống đáng kể trong khi hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện. 

Một trẻ có thể bị sốt phát ban ít nhất là một lần, thậm chí nhiều lần tùy theo tình trạng sức khỏe và nguyên nhân gây bệnh. Hầu hết những nguyên nhân gây sốt phát ban cho trẻ là những virút lành tính, nếu được chăm sóc tốt bệnh có thể tự lành sau 5 - 7 ngày.   


Nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết trẻ bị sốt phát ban 

SPB là bệnh rất dễ lây nhiễm,nhất là trong môi trường có tính tập thể như nhà trẻ, trường học, trường mẫu giáo vì bệnh lây chính yếu qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi làm văng những giọt nước li ti, người lành hít phải sẽ bị nhiễm bệnh. 

Sốt phát ban hầu hết là do nhiễm vi rút (70 - 80%), trong đó virút đường hô hấp luôn chiếm đa số bao gồm virút sởi, virút gây bệnh rubella, adeno virút, echo virút, nhóm entero virus…Đây chính là lý do tại sao trẻ có thể bị SPB nhiều lần. 

Sốt phát ban do vi rút sởi và virút gây bệnh rubella là 2 nguyên nhân thường gặp. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, bệnh rubella gọi là ban đào. Biểu hiện chung của SPB là sau thời gian ủ bệnh trung bình khoảng một tuần, trẻ thường bị sốt, trẻ có thể sốt nhẹ (37,5oC - 38oC) hoặc sốt cao (39oC - 40oC) tùy theo thể trạng và nguyên nhân gây bệnh. 

Khi bớt sốt sẽ xuất hiện hồng ban trên người với tính chất đặc thù của từng bệnh, cụ thể: 

Ban do virút sởi (ban đỏ): khởi bệnh trẻ thường bị sốt, khi dấu hiệu sốt giảm sẽ xuất hiện dấu hiệu phát ban, lúc đầu ở sau tai sau đó lan ra mặt, rồi lan dần xuống ngực bụng và ra toàn thân. Khi ban sởi biến mất cũng mất dần theo thứ tự đã nổi trên da, đặc điểm ban sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da rất đặc trưng thường gọi là “vằn da hổ”. 

Ngoài ra một số triệu chứng kèm theo như chảy nước mũi, ho hay đỏ mắt. Virút sởi có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho trẻ nhất là biến chứng viêm phổi và viêm não do virút. 

Ban do virút rubella (ban đào): phát ban lúc đầu ở mặt sau đó lan xuống dưới chân, thời gian phát ban thường kéo dài khoảng 3 ngày. Ban do rubella thường dày hơn và có màu nhạt hơn ban sởi, có thể kèm theo tình trạng sưng hạch sau tai, hạch cổ và dưới chẩm,bệnh nhân có thể bị đau khớp. Virút gây bệnh rubella khá lành tính đối với trẻnhưng lại rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai. 

Chú ý vệ sinh cho trẻ, không cần kiêng nước, kiêng gió, kiêng ăn

Nguyên tắc chăm sóc trẻ bị sốt phát ban tại nhà 

Hạ sốt đúng cách cho trẻ: nếu trẻ sốt từ 38oC cho trẻ uống thuốc hạ sốt loại paracetamol loại đơn chất với liều 10 - 15mg/kg cân nặng, 4 - 6 giờ một lần. Lau mát cho trẻ bằng nước ấm khi cần, để tránh biến chứng sốt cao co giật ở trẻ. 

Giảm ho, giảm đau họng cho trẻ: khi trẻ ho nên cho trẻ uống các loại thuốc ho có nguồn gốc thảo dược như rau tần dầy lá, tắc chưng với đường phèn, gừng hấp mật ong… 

Làm thông mũi trẻ bằng nước muối loãng và khăn giấy mềm: giúp trẻ dễ ăn uống và bú sữa mẹ. 

Cho trẻ ăn thức ăn lỏng, mềm dễ tiêu hóa và bổ sung đủ nguồn nước uống cho trẻ. 

- Cho trẻ ăn thức ăn lỏng,giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa như cháo, súp, sữa… Trẻ ăn uống quá khó khăn phụhuynh nên chia nhỏ bữa ăn để giúp trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng cần thiết. 

- Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường, nhất là những loại nước ép trái cây tươi để đảm bảo việc cung cấp đủ nguồn vitamin cho cơ thể, cải thiện sức đề kháng. 

- Đặc biệt những trẻ bị nhiễm sởi cần chú ý việc bổ sung vitamin A với liều lượng phù hợp theo lứa tuổi để bảo vệ đôi mắt cho trẻ. 

Giữ vệ sinh da luôn sạch và khô thoáng: qua việc tắm rửa cho trẻ sạch sẽ mỗi ngày, không nên kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn.  

- Thói quen kiêng gió, kiêng nước bằng cách trùm kín trẻ, không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó hạ sốt và dễ co giật do sốt cao. Không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó chịu và dễ nhiễm trùng da và biến chứng viêm phổi. Tuy nhiên, không nên để trẻ bị lạnh. 

- Kiêng ăn sẽ làm cho trẻ rất dễ bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm trùng. Ngược lại, nên cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, ăn thành nhiều bữa, ăn thức ăn dễ tiêu. 

Phát hiện sớm dấu hiệu bệnh trở nặng để cho trẻ nhập viện kịp thời: trẻ bị sốt phát ban được chăm sóc tại nhà sẽ được hướng dẫn tái khám theo hẹn mỗi ngày hoặc 2 ngày một lần tùy theo tình trạng bệnh của trẻ. Phụ huynh cần cho trẻ đến khám lại ngay khi phát hiện trẻ có những dấu hiệu sau: 

- Trẻ bị sốt cao không hạ sau khi đã phát ban. 

- Thay đổi tri giác: lừ đừ,ngủ li bì, hôn mê. 

- Trẻ bị co giật. 

- Trẻ thở mệt, thở nhanh, khó thở. Phương pháp phòng ngừa bệnh sốt phát ban cho trẻ 

- Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân bị nghi ngờ đang mắc bệnh, cách này rất khó vì trẻ bệnh có thể lây cho trẻ khác ngay khi chưa có biểu hiện phát ban. 

Cách phòng ngừa tốt nhất là chủng ngừa: Sởi có thể chích ngừa khi trẻ được 9 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Rubella được chích chung với quai bị và sởi bằng vắc-xin 3 trong 1 khi trẻ được 12 tháng - 15 tháng tuổi và tiêm nhắc liều thứ 2 khi trẻ được 4 tuổi - 6 tuổi. 


Click đọc ngay…

Phòng bệnh hen suyễn cho trẻ nhỏ

20:49 |
Hen phế quản trong dân gian gọi là suyễn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày nay có khoảng 10% số trẻ em dưới 15 tuổi bị suyễn và khoảng 25.000 trẻ em chết vì suyễn mỗi năm. 

Phế quản và hen phế quản 

Ở điều kiện sinh lý bình thường, khi ta hít vào, không khí từ ngoài đi qua mũi hoặc miệng, xuống họng, vào đường thở lớn gọi là khí quản rồi đi vào các nhánh nằm trong hai lá phổi, các nhánh này gọi là phế quản. 


Khi ta tiếp xúc với các yếu tố gây cơn hen, đường thở bị viêm, niêm mạc đường thở bị phù nề và tăng tiết dịch nhầy làm bít tắc lòng phế quản, dẫn đến các dải cơ quấn quanh phế quản co thắt lại làm cho lòng phế quản hẹp lại, gây cản trở lưu thông của dòng khí thở vào và thở ra. 

Điều này gây nên các triệu chứng của cơn hen với các biểu hiện khó thở, nghe có tiếng rít, tiếng khò khè trong lồng ngực. 

Nguyên nhân và triệu chứng 

Nguyên nhân gây nên cơn suyễn vẫn chưa rõ, đang được tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng ghi nhận suyễn có liên quan mật thiết đến tình trạng dị ứng từ các phấn hoa, lông thú, bụi nhà, thuốc men, nhiễm trùng đường hô hấp, do thay đổi nhiệt độ theo mùa, do khói từ thuốc lá hoặc bếp củi hay lò sưởi, chất bảo quản thực phẩm và phụ gia, chất tạo màu, do cơ địa dị ứng với một số chất đạm từ thức ăn như: tôm cua, cá biển, nước mắm… 

Gần đây, các nhà khoa học ở Mỹ ghi nhận việc dùng bừa bãi hoặc quá liều các vitamin tổng hợp, nhất là vitamin nhóm B đã làm tăng dị ứng mắc hen suyễn ở trẻ em. Về tắm cho trẻ bị hen suyễn, cần tắm nơi không có gió lùa, tắm nước ấm, tắm nhanh, lau khô ngay vì để lạnh đột ngột cũng là nguy cơ xuất hiện cơn hen cho trẻ. 

Triệu chứng hen suyễn của trẻ em đa dạng, có một số trẻ bị bệnh nhẹ và thoáng qua, một số trẻ bị liên tục, xảy ra một lần trong ngày, với các biểu hiện như: thở khò khè, ho, khó thở, tức ngực và đôi khi có đờm trong cổ họng. 

Phòng bệnh hen suyễn ở trẻ ra sao? 

Hen suyễn là bệnh mãn tính đường hô hấp, để lại nhiều di chứng cho trẻ em, cho nên phòng bệnh là việc làm không thể thiếu cho mỗi gia đình. Nguyên nhân hen suyễn chủ yếu là tiếp xúc dị nguyên cho nên chúng ta có thể chủ động dự phòng, tránh xuất hiện cơn hen suyễn cho trẻ em. 

Muốn vậy, trước hết cần tránh cho trẻ tiếp xúc với các yếu tố gây dị ứng như: không để cho trẻ tiếp xúc với các loại hoa kiểng trang trí trong nhà, tránh khói bụi do nấu nướng, tránh bụi từ việc sử dụng bếp than, bếp củi hay hút thuốc lá trong nhà, không nuôi chó mèo hoặc các loại vật nuôi có lông khác vì trẻ dễ hít phải các loại lông thú cũng phát sinh cơn hen. Không để trẻ chơi ở những nơi có nhiều hoa như công viên. Không để những chất nặng mùi trong nhà, tránh dùng các loại thuốc xịt như: nước hoa xịt phòng, thuốc xịt muỗi, côn trùng. 


Bé bị hen suyễn không nên ăn nhiều bánh kẹo, nhất là những loại có các chất hóa học để tăng mùi thơm cũng như: các đồ uống, nước ngọt có đường hóa học, chất bảo quản, tránh các loại thức ăn mà trẻ dễ bị dị ứng như: tôm, cua, bò, gà, bột ngọt, đồ hộp, lòng trắng trứng. 

Với trẻ còn bú, cần cho trẻ bú sữa mẹ để tận dụng tốt nguồn kháng thể từ mẹ, để phòng mọi bệnh tật trong đó có hen suyễn. Theo các nhà khoa học, trẻ được nuôi bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu sau khi sinh sẽ tránh được bệnh hen suyễn trong 4 - 6 năm đầu của cuộc đời. 

Với trẻ lớn hơn, cần tập cho trẻ có thói quen ăn nhiều hoa quả, đặc biệt là táo, rau tươi vì có nhiều chất antioxidants như vitamin C sẽ có lợi về nhiều mặt trong đó có phòng và chữa hen. Cần bổ sung chế độ ăn nhiều cá, dùng dầu cá có nhiều axít béo omega 3 và không no có tác dụng làm giảm bớt các phản ứng viêm và có tác dụng tích cực trong việc phòng và chữa hen phế quản. 

Sử dụng thuốc chữa hen suyễn

Với trẻ bị hen suyễn thì thuộc cơ địa dị ứng nên rất dễ dị ứng thuốc nhất là kháng sinh, nên khi sử dụng phải có chỉ định của bác sĩ. Điều hết sức lưu ý là khi bé khám bệnh cần khai báo với bác sĩ là trẻ bị hen suyễn để bác sĩ cân nhắc khi sử dụng thuốc cho trẻ, chọn thuốc thuộc nhóm ít gây dị ứng nhất cho bé.

Một nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học Mỹ ghi nhận việc dùng bừa bãi hoặc quá liều các vitamin tổng hợp, nhất là vitamin nhóm B đã làm tăng dị ứng hóa và khả năng mắc hen suyễn ở trẻ em. 


BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG
Click đọc ngay…

Tiêm phòng lao cho trẻ, có gì đáng nói?

21:00 |
Trẻ em được tiêm phòng lao bằng BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch, các bà mẹ vẫn không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. 

Vaccin tiêm phòng lao BCG sống đông khô 

Hiện Việt Nam dùng vaccin tiêm phòng lao BCG sống đông khô. Trẻ sơ sinh được tiêm 1 mũi vaccin BCG càng sớm càng tốt. Sau khi tiêm BCG, trẻ sẽ có phản ứng, tại nơi tiêm có thể loét to kéo dài hoặc thành một áp-xe. Theo dõi trẻ khoảng 3 - 4 tuần sau khi tiêm sẽ thấy có một nốt sưng nhỏ, 10 - 15 ngày sau sẽ rò dịch vài tuần rồi kín miệng, làm vảy. Khi vảy rụng sẽ để lại một sẹo nhỏ tồn tại trong nhiều năm. 


Theo thống kê của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương và Chương trình Tiêm chủng mở rộng, có khoảng 10 - 20% trường hợp nốt loét có thể to hơn (đường kính 5 - 8mm), làm mủ và kéo dài 3 - 4 tháng. Ở một số cháu, nốt loét có thể kéo dài trên 4 tháng mới đóng vảy và liền sẹo. 

Trong những trường hợp này, có thể dùng dung dịch INH 1% (rimifon 1%) hoặc bột INH rắc tại chỗ. Cần giữ sạch vết loét để tránh bội nhiễm sẽ làm cho việc điều trị trở nên phức tạp. 

Vì vậy khi cho trẻ ra trạm y tế xã để tiêm phòng lao, các bà mẹ đừng lo lắng quá nếu sau khi tiêm phòng một thời gian, vết tiêm của bé loét to kéo dài tạo thành một áp-xe. Đây là hiện tượng hết sức bình thường, chỉ cần giữ vệ sinh để vết loét không bội nhiễm. 

Nổi hạch - biến chứng hay gặp sau khi tiêm phòng lao vaccin BCG 

Biến chứng hay gặp sau khi tiêm vaccin BCG là nổi hạch (hay còn gọi là viêm hạch lympho - viêm hạch mủ), tỷ lệ dưới 1%. Ở những trường hợp này, một cục hạch sẽ nổi lên ở nách trái trong một hay vài tháng (thường là trong 6 tháng sau khi tiêm), vì thường tiêm ở vai trái hoặc ở hố trên đòn. 

Hạch này mềm, di động, sưng chậm, sau đó vỡ, có thể rò kéo dài trong vài tháng rồi lành tự nhiên. Bởi vậy, các bà mẹ cần phải phân biệt đây không phải là lao hạch. Đối với hạch mủ, điều trị bằng cách chích, rồi rửa sạch, rắc bột INH tại chỗ. Có trường hợp bị nhiễm bệnh do trực khuẩn dùng để sản xuất vaccin BCG hoặc viêm xương (rất hiếm gặp, ở Việt Nam chưa phát hiện trường hợp nào). 

Trẻ em được tiêm phòng lao bằng BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch, các bà mẹ vẫn không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. 

Khi đã có miễn dịch rồi cũng hết sức hạn chế, không để trẻ cùng sống hay tiếp xúc với người ho khạc ra đờm có vi khuẩn lao, đồng thời tránh các bệnh nhiễm khuẩn khác làm suy sụp miễn dịch lao. 


BS. Nguyễn Minh Tuấn
Click đọc ngay…

Trẻ dậy thì sớm, cần nhận biết và điều trị sớm

09:29 |
Trẻ dậy thì sớm sẽ gây ra những vấn đề liên quan đến sức khỏe, cấu trúc xương… ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của trẻ. Vậy nguyên nhân nào gây dậy thì sớm. Việc điều trị và phòng ngừa như thế nào? 

Bước vào tuổi dậy thì, một quá trình phức tạp được gọi là điều chỉnh trục dưới đồi-tuyến yên-sinh dục (HPG) sẽ xảy ra. Quá trình này bao gồm các bước sau: 

Não bắt đầu quá trình: một phần của não gọi là vùng dưới đồi sản xuất gonadotropin-releasing hormon (Gn-RH). 

Các hormon tuyến yên tiết ra thêm: Gn-RH chỉ huy tuyến yên - một tuyến hình nhỏ đậu của bộ não - tiết ra thêm hai kích thích tố: luteinizing hormon (LH) và hormon kích thích nang trứng (VSATTP). 


Hormon sinh dục được sản xuất: LH và FSH làm cho buồng trứng sản xuất kích thích tố tham gia vào sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nữ (estrogen) và tinh hoàn để sản xuất hormon chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nam (testosteron). Các tuyến thượng thận cũng bắt đầu sản xuất estrogen và testosteron. 

Thay đổi vật lý xảy ra: việc sản xuất estrogen và testosterone gây ra những thay đổi vật lý của tuổi dậy thì. 

Nguyên nhân gây dậy thì sớm 

Tuổi dậy thì thường bắt đầu ở trẻ em gái ở độ tuổi từ 8 và 12 và ở các bé trai ở độ tuổi từ 9 và 14. Tuổi dậy thì sớm là tuổi dậy thì bắt đầu trước 8 tuổi (đối với bé gái) và trước 9 tuổi (đối với bé trai). Phân loại dậy thì sớm người ta chia làm hai loại là dậy thì sớm trung ương (trung tâm) và ngoại vi. 

Dậy thì sớm trung ương: là do nồng độ GnRH tăng cao từ sự hoạt động quá sớm của trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục. 

Trong trường hợp hiếm hoi, những điều sau đây có thể gây dậy thì sớm trung ương: khối u trong não hoặc tuỷ sống, viêm não hay viêm màng não; Bức xạ vào não hay cột sống; Sự tắc nghẽn gây thiếu máu cục bộ não, suy giáp (tuyến giáp không sản xuất đủ hormon). 

Các bệnh lý bẩm sinh của hệ thần kinh trung ương (não úng thuỷ, các kytse màng nhện, loạn sản vách-thị, harmatome...); Hội chứng McCune-Albright-Tăng sản thượng thận bẩm sinh (một nhóm các rối loạn di truyền liên quan đến sản xuất nội tiết tố bất thường của tuyến thượng thận)... 

Ngoài ra, thể không hoàn toàn chỉ có một đặc tính sinh dục phụ xuất hiện như: tuyến vú phát triển đơn độc, hay lông mu phát triển sớm đơn độc, hoặc kinh nguyệt xuất hiện sớm đơn độc... 

Dậy thì sớm ngoại vi: dậy thì sớm ngoại vi là ít phổ biến hơn so với dậy thì sớm trung ương. 

Nguyên nhân không phải do tăng nồng độ GnRH, mà các hormon steroids sinh dục tăng cao do bệnh lý tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) hay thượng thận, một số trường hợp đặc biệt có thể do bài tiết lạc chỗ các hormon hướng sinh dục, có thể do nguồn hormon ngoại sinh quá mức. 

Cả bé gái và bé trai bị dậy thì sớm ngoại vi có thể do: khối u ở tuyến thượng thận hoặc trong tuyến yên tiết ra estrogen hoặc là testosteron; hội chứng McCune-Albright; tiếp xúc với các nguồn bên ngoài của estrogen hay testosteron, chẳng hạn như các loại kem hoặc thuốc mỡ. 

Ở trẻ gái cũng có thể được kết hợp với: u nang buồng trứng, các khối u buồng trứng. Ở trẻ trai cũng có thể là do khối u trong các tế bào sản xuất tinh trùng (tế bào mầm), hoặc trong các tế bào mà sản xuất testosteron (tế bào Leydig). 

Ngoài ra, gene đột biến - một rối loạn hiếm gặp gọi là gonadotropin, là do một khiếm khuyết ở gen, có thể dẫn đến việc sản xuất ban đầu của testosteron ở các bé trai, thường là ở độ tuổi từ 1 đến 4. 

Trẻ ăn nhiều chất béo và đồ ăn nhanh có nguy cơ dậy thì sớm

Các yếu tố khởi phát dậy thì sớm 

Một trong những yếu tố làm khởi phát sự bài tiết LH- RH là gene KiSS -1 hay còn được gọi là gene GPR54. KiSS-1 xuất hiện đầu tiên ở vùng dưới đồi. KiSS-1 mã tổng hợp hormon kissepeptin, hormon này liên kết tự nhiên với thụ thể GPR54 (G Protein-Coupled Receptor- thụ thể kết hợp với protein G). GPR54- xuất hiện đầu tiên ở não, tuyến yên, bánh nhau. 

Ngày nay, hormon Kisspeptin được xác định là yếu tố di truyền khởi động hiện tượng dậy thì do làm tăng tiết hormon LHRH, làm khởi phát quá trình dậy thì. Một số trường hợp dậy thì có thể do các tín hiệu nguồn gốc ngoại vi như leptine, ghreline, IGF-1, insuline và các steroid sinh dục. Vai trò của leptin với khởi phát dậy thì ngày càng xác định, những người thiếu leptin gây dậy thì muộn. 

Trẻ dậy thì sớm ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? 

Ảnh hưởng về tâm lý: trẻ dậy thì sớm có những dấu hiệu phát triển sinh lý trước tuổi. Những thay đổi trên cơ thể của trẻ dậy thì sớm khác với những trẻ cùng trang lứa sinh ra những vấn đề tâm lý làm cho trẻ ngại ngùng, dễ làm cho trẻ có tâm lý tự ti và để lại di chứng cho trẻ sau khi trưởng thành. 

Chiều cao hạn chế: ảnh hưởng rõ nhất của trẻ dậy thì sớm là phát triển tăng nhanh theo tuổi xương, làm cho trẻ nhìn cao hơn so với các bạn cùng lớp. Tuy nhiên, trẻ dậy thì sớm sẽ làm cho đầu xương đóng khép sớm, rút ngắn thời kỳ sinh trưởng, từ đó ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ khi trưởng thành. 

Ham muốn tình dục trước tuổi: sự phát triển tâm lý dậy thì quá sớm dẫn đến những hành động ham muốn về sinh lý trước tuổi. Do suy nghĩ còn nông nổi, tuổi đời còn nhỏ, khả năng tự khống chế kém nên không thể tránh khỏi những cạm bẫy xã hội, từ đó dẫn đến mang thai hoặc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. 

Hội chứng buồng trứng đa nang: chu kỳ kinh nguyệt trước khi 8 tuổi có nguy cơ phát triển chứng rối loạn nội tiết tố sau này ở tuổi dậy thì gây buồng trứng đa nang. 

Làm gì khi trẻ dậy thì sớm? 

Nếu nghi ngờ trẻ dậy thì sớm, cần đến khám bác sĩ chuyên khoa nội tiết ở trẻ em (nội tiết nhi khoa). Để chẩn đoán xác định cần làm một số xét nhiệm cận lâm sàng. X - quang bàn tay và cổ tay cũng rất quan trọng, cho thấy nếu các xương đang phát triển quá nhanh; xét nghiệm máu sau tiêm St-RH hormon. 

Ở trẻ em với dậy thì sớm trung tâm, tiêm Gn-RH và mức hormon LH, hormon kích thích nang trứng tăng. Ở trẻ em với dậy thì sớm ngoại vi, mức độ hormon LH và FSH giữ nguyên. Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho trẻ em có dậy thì sớm trung tâm để xem có bất kỳ bất thường của não gây ra sự bắt đầu vào đầu của tuổi dậy thì. 

Kiểm tra tuyến giáp nếu cho thấy bất kỳ dấu hiệu của suy giáp (chẳng hạn như mệt mỏi, trì trệ, tăng độ nhạy để táo bón, cảm lạnh, giảm hiệu suất hoạt động trường học hoặc khô da nhợt nhạt); có thể làm siêu âm vùng chậu để kiểm tra u nang buồng trứng... 


Các phương pháp điều trị dậy thì sớm 

Hiện nay, những tiến bộ của y học cho phép việc điều trị dậy thì sớm cho kết quả khả quan. Điều trị dậy thì sớm phụ thuộc vào nguyên nhân. 

Điều trị nội khoa: hầu hết trẻ em bị dậy thì sớm trung tâm, có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc. Điều trị này, được gọi là điều trị St-RH, thường bao gồm một mũi tiêm thuốc hàng tháng, như leuprolide, dừng trục HPG và chậm phát triển hơn nữa. Đứa trẻ tiếp tục nhận được thuốc này cho đến khi đến tuổi bình thường của tuổi dậy thì. Một khi dừng thuốc, quá trình dậy thì bắt đầu lại. 

Phẫu thuật can thiệp: nếu bệnh do khối u, u nang buồng trứng tuyến thượng thận... gây nên thì phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ. Sau phẫu thuật, trẻ cần được kiểm tra định kỳ ở bệnh viện để xem xét kết quả. Nếu u nằm trong não, việc quyết định phẫu thuật phải được sự đồng ý của bác sĩ ngoại khoa thần kinh. 

Phòng ngừa thế nào? 

Một số các yếu tố nguy cơ dậy thì sớm, chẳng hạn như giới tính và chủng tộc, không thể tránh khỏi. Nhưng, có những điều có thể làm để giảm nguy cơ của trẻ phát triển dậy thì sớm, bao gồm: 

Dinh dưỡng hợp lý: Tăng cường rau củ quả cho trẻ trong bữa ăn hằng ngày, đảm bảo lượng đạm đầy đủ, không nên ăn thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, xúc xích, bơ...; không tẩm bổ quá mức, hạn chế ăn nhiều đồ ngọt, đồ chiên rán... chứa nhiều chất béo khiến trẻ thừa dinh dưỡng.

Chú ý lựa chọn thực phẩm an toàn, tránh mua thực phẩm trôi nổi không uy tín, không rõ nguồn gốc, thực phẩm chứa hormon tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tới dậy thì sớm. Khuyến khích trẻ năng vận động: vận động sẽ giúp trẻ tiêu hao năng lượng như các môn bơi, nhảy dây, đá bóng, đá cầu... 


BS. Hoàng Thị Yến Loan
Click đọc ngay…

Hội chứng thận hư ở trẻ do viêm đường hô hấp

21:34 |
Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ bị thận hư. Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ mắc hội chứng thận hư. 

Bệnh còn làm tổn thương nhiều cơ quan khác, hậu quả là trẻ không thể phát triển khỏe mạnh bình thường, dễ chết yểu. Mùa đông - xuân trẻ dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp nên có nguy cơ cao mắc bệnh thận hư. 

Ở trẻ em, hội chứng thận hư (HCTH) thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và trên cơ địa dị ứng. Bệnh gây tổn thương cầu thận mạn tính ở trẻ em. Tại Việt Nam, tuổi mắc bệnh trung bình là 8,7 tuổi; trẻ trai có tỷ lệ mắc bệnh gấp đôi so với trẻ gái. 


Dấu hiệu trẻ mắc bệnh 

Trẻ em bị HCTH thường có các triệu chứng: phù toàn thân với đặc điểm là phù trắng, phù mềm, ấn lõm, không đau. Lúc đầu trẻ bị phù đột ngột từ mặt lan xuống toàn thân. Có khi trẻ còn bị phù đa màng: màng bụng, màng phổi, màng tim, màng não. Đôi khi trẻ có đau bụng, có thể do căng màng bụng khi dịch báng quá nhiều gây đau hoặc do tắc mạch mạc treo, do rối loạn tiêu hóa, viêm phúc mạc... 

Đến bệnh viện khám bệnh, trẻ phải làm các xét nghiệm để xác định bệnh. Xét nghiệm nước tiểu thấy protein niệu trên 100mg/kg/24 giờ; có trụ thấu quang. Xét nghiệm máu có thể thấy giảm protein toàn phần dưới 40g/l. 

Làm điện di protein máu thấy albumin máu giảm dưới 25g/l; chất alpha2 globulin và bêta globulin tăng, gama globulin giảm nhiều vào giai đoạn muộn của bệnh. 

Điện di miễn dịch thấy IgM tăng cao và IgG giảm nhiều. Lipid máu và cholesterol máu tăng. Hồng cầu giảm, bạch cầu và tiểu cầu có thể tăng. Điện giải đồ có thể thấy giảm Na, K, Ca. 

Bệnh gây nhiều biến chứng HCTH thường gây ra một số biến chứng nặng gồm: nhiễm khuẩn, viêm phúc mạc, viêm phổi, viêm mô tế bào, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết. 

Nếu trẻ bị HCTH thường chậm phát triển, dễ bị suy dinh dưỡng, loãng xương, hay bị co giật do hạ canxi máu, thiếu máu, bướu tuyến giáp, thuyên tắc mạch mạc treo, tắc mạch ở phổi, ở các chi, bị những cơn đau bụng do phù mạc treo, phù tụy, viêm phúc mạc... 

Ngoài ra, trong quá trình điều trị, một số biến chứng cũng có thể xảy ra. Khi dùng thuốc corticoid liều mạnh và kéo dài sẽ gây rối loạn nước và điện giải; rối loạn nội tiết và chuyển hóa; loét dạ dày, ảnh hưởng nhiều cơ quan. 

Nếu dùng thuốc ức chế miễn dịch và ức chế tế bào ung thư có thể gây suy tủy, ung thư máu, nhiễm khuẩn, viêm bàng quang, chảy máu, rụng tóc... Bệnh nhi phải dùng thuốc lợi tiểu để chống phù có thể gây rối loạn điện giải như giảm Na, K máu, giảm thể tích máu tuần hoàn gây trụy tim mạch, suy thận. 

Hội chứng thận hư gần nhiều tác hại bất lợi cho trẻ

Những lưu ý khi điều trị hội chứng thận hư ở trẻ

Trong điều trị, bệnh nhi cần được nghỉ ngơi, điều trị triệu chứng phù với chế độ ăn nhạt, chỉ khoảng 2-3g muối/ngày; chỉ uống ít nước dưới 15ml/kg/ngày. Bệnh nhi rất cần được ăn nhiều đạm: từ 2-4g/kg/ngày. Trẻ cũng cần bổ sung các vitamin C và nhóm vitamin B. 

Giữ vệ sinh thân thể, mùa đông xuân cần giữ ấm cho trẻ bệnh bằng chế độ ăn uống đầy đủ và mặc quần áo ấm, quàng khăn, đội mũ giữ ấm vùng đầu, cổ, ngực. 

Vì hội chứng thận hư ở em rất hay tái phát nên bệnh nhi cần được theo dõi sát trong nhiều năm. Để thực hiện việc này, đòi hỏi cha mẹ và bệnh nhi cần tuân thủ chế độ điều trị nội trú ở bệnh viện cũng như việc điều trị ngoại trú một cách nghiêm túc. Bệnh nhi cần được theo dõi các chỉ số phát triển như chiều cao, cân nặng, huyết áp và các kết quả xét nghiệm giúp theo dõi bệnh như tốc độ máu lắng, protein niệu... 

Việc phòng bệnh rất quan trọng 

Nhiều trường hợp hội chứng thận hư thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp hoặc các bệnh nhiễm khuẩn khác, nên các bậc cha mẹ cần chú ý chăm sóc trẻ, cho trẻ ăn uống đầy đủ, học tập và nghỉ ngơi hợp lý để tránh các bệnh nhiễm khuẩn. 

Luôn luôn vệ sinh nhà ở, lớp học tốt để tránh những nguy cơ nhiễm khuẩn qua hô hấp do ô nhiễm không khí, nhiễm khuẩn da, niêm mạc... 

Mùa đông xuân, cha mẹ cần cho trẻ mặc quần áo ấm, đội mũ, quàng khăn giữ ấm cho trẻ, nhất là vùng ngực cổ để phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng. Thường xuyên cho trẻ đeo khẩu trang khi đi đường hay đến nơi đông người như chợ, lễ hội, đình đám... để tránh hít phải khói, bụi, vi khuẩn. Khi trẻ bị các bệnh nhiễm khuẩn, cần điều trị tích cực. 


BSCKI. Trịnh Anh Thư
Click đọc ngay…

Nên cho trẻ ăn nhạt một chút sẽ tốt hơn

15:34 |
Do trẻ có vị giác tốt hơn người lớn, nên bạn nên nêm nhạt một chút. Vì vừa với bạn có thể là quá mặn đối với trẻ. Một số bí quyết dinh dưỡng sau sẽ giúp ích cho các bà mẹ mới sinh con và chăm con nhỏ. 

"Khôn ăn cái, dại ăn nước" 

Có lẽ chúng ta nghĩ rằng, sau khi hầm nhừ một loại thực phẩm nào đó, tất cả những chất bổ tinh túy nhất của thực phẩm đã tan vào trong nước, “phần cái” còn lại chỉ là “xác”. Tuy nhiên, các phân tích thành phần dinh dưỡng đã cho thấy, chất đạm (thịt, cá, tôm...) có nấu trong bao lâu thì vẫn chỉ có ở phần xác mà không tan được vào trong nước, chất xơ trong rau củ cũng vậy. 


Vì vậy, muốn nhận đủ các chất dinh dưỡng phải cho trẻ ăn cả phần cái (xác) của thực phẩm bằng cách băm nhuyễn, cắt nhỏ, nấu mềm... Phần nước hầm có vị ngọt rất ngon nhưng lại không có giá trị dinh dưỡng bao nhiêu. 

Rất nhiều bà mẹ đến gặp bác sĩ chia sẻ là tại sao mình bỏ nhiều công sức chăm con kỹ vậy mà con vẫn bị suy dinh dưỡng. Ngày nào cũng tốn cả tiếng đồng hồ hầm xương với khoai tây, cà rốt để nấu cháo cho trẻ mà trẻ vẫn ngày càng ốm đi. 

Khi bác sĩ hỏi bà mẹ: “Nếu ăn canh súp này liên tục trong 1 tuần thì chị ăn nổi không?” thì bà mẹ mới nhận ra sai lầm của mình. Trẻ nhỏ nhưng cũng đã biết thưởng thức mùi vị, ăn mãi nước xương làm sao mà không ngán. Và không phải món ngon của mẹ luôn là món ngon của con. Cho bé ăn uống đa dạng, đổi món thường xuyên là cách tốt nhất để bé nhận được nhiều loại chất dinh dưỡng mà không bị ngấy. 

Cách nấu ăn thông minh đảm bảo không mất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ 

Do quá bận rộn, một số bà mẹ đã phải làm cách này vì thời gian hầm một nồi cháo khá lâu, mà bé lại ăn mỗi bữa không nhiều. 

Ví dụ như bạn nấu một nồi cháo đầy đủ 4 nhóm dinh dưỡng gồm cháo + thịt heo + rau mồng tơi + dầu ăn. Khi bạn hâm lại lần 1 rồi lần 2, lượng vitamin trong rau sẽ mất đi gần hết và có mùi vị khó ăn. Trẻ lại bị ngán vì ăn 3 bữa cùng một mùi vị. 

Tại sao bạn không hầm một nồi cháo trắng khoảng 3 bát, sau đó múc ra 1 bát cháo để nấu riêng với thịt heo, rau mồng tơi, dầu, nêm nước mắm để ăn sáng, phần cháo trắng còn lại để tủ lạnh, rồi trưa múc ra 1 bát nấu với thịt bò, rau lang, dầu ăn, nêm nước tương, bát cháo còn lại ăn tối với đậu hũ, bí đỏ, dầu ăn, nêm đường ngọt. 

Lưu ý sau khi băm nhuyễn thịt, cá… sống, bạn nên đánh tan phần đạm này trong một ít nước lã trước khi bỏ vào nồi nấu chín thì thịt sẽ không bị vón cục lại. Phần rau củ cũng nên băm nhỏ để trẻ nhận được đủ chất dinh dưỡng và chỉ nên nấu rau một lần. 

Lưu ý khi nêm nếm thức ăn của trẻ 

Trẻ nhỏ có cảm giác vị giác tốt hơn người lớn rất nhiều, vì con người càng lớn thì lưỡi càng bị “chai đi” và nhiều người già bị mất cả cảm giác này. Vì vậy khi nêm nếm thức ăn cho trẻ, bạn cần nêm nhạt hơn “lưỡi” của bạn một chút. Nếu bạn nêm vừa miệng mình thì có lẽ là quá mặn hoặc quá ngọt so với trẻ. 


BS.Đào Thị Yến Thủy 
(Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM)
Click đọc ngay…

Trẻ chậm mọc răng có liên quan đến bệnh còi xương?

10:47 |
Trẻ chậm mọc răng có thể do di truyền và thời điểm sinh em bé cũng quyết định thời điểm mọc răng của trẻ. Trẻ sinh đủ tháng sẽ có răng sớm hơn so với bé sinh thiếu tháng. Những em bé sinh thiếu tháng, nhẹ cân cũng sẽ mọc răng chậm hơn các bé bình thường. 

Tuy nhiên, giới hạn mọc răng đầu tiên của trẻ là 12 tháng tuổi. Điều bạn cần quan tâm là phát hiện sớm nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng để kịp thời thay đổi chế độ ăn uống và chăm sóc trẻ cho phù hợp. 

Quá trình mọc răng của trẻ 



Ở mỗi trẻ tiến trình mọc răng hoàn toàn khác nhau, có trẻ mọc răng sớm, có trẻ mọc răng muộn. Số răng của trẻ thông thường bằng số tháng tuổi trừ đi 4. Bình thường khi trẻ được 6 tháng tuổi, chiếc răng đầu tiên sẽ mọc. 

Trẻ bắt đầu mọc răng cửa hàm dưới trước tiên rồi đến răng cửa hàm trên, tiếp theo là răng cối sữa thứ nhất, sau đó là răng nanh. Khi mọc đến răng cối sữa thứ hai cũng là lúc bộ răng sữa đã mọc đủ, 10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới. Lúc này trẻ đã được khoảng 3 tuổi. 

Tuy nhiên cũng có trường hợp trẻ mọc răng lúc mới 4 tháng tuổi và đến một tuổi đã mọc đầy đủ bộ răng sữa. Hoặc có trẻ không mọc một chiếc răng nào mãi cho đến khi được 2 tuổi. Trong nhiều trường hợp trẻ phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần dù chưa mọc răng hoặc mọc răng chậm hơn so với tháng tuổi thì đó là do sinh lý. 

Nếu trẻ mọc răng chậm kết hợp với một số biểu hiện khác như trẻ chậm phát triển chiều cao, cân nặng, ngủ không ngon giấc, đổ mồ hôi trộm ban đêm, thóp rộng... thường là do trẻ bị còi xương do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D và chế độ ăn nghèo canxi và phospho... 

Những nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng 

Trẻ chậm mọc răng do bị còi xương: Những trẻ dễ có nguy cơ còi xương là trẻ sinh non, trẻ sinh đôi, trẻ nuôi bằng sữa ngoài, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông... 

Các dấu hiệu còi xương ở trẻ như: trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ, xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, các biểu hiện ở xương: thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê; trương lực cơ nhẽo, táo bón... 

Trong trường hợp còi xương cấp tính: trẻ có thể bị co giật do hạ canxi máu. Việc bổ sung vitamin D và canxi dưới dạng thuốc là cần thiết nhưng bạn phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Bạn không nên tự ý cho bé dùng vitamin nói chung và canxi nói riêng vì trẻ có thể bị rối loạn tiêu hóa, chán ăn... do uống vitamin quá liều hoặc trong thời gian dài. 

Trẻ chậm mọc răng do bị suy dinh dưỡng: Khi trẻ chậm mọc răng và trẻ có số đo về cân nặng và chiều cao thấp hơn trẻ bình thường với các triệu chứng của còi xương như trên là do trẻ bị suy dinh dưỡng. 



Chế độ ăn của trẻ ngoài việc đảm bảo các yếu tố chất đường, đạm, tinh bột, chất béo... việc hấp thu và chuyển hóa canxi thành canxi của xương phụ thuộc nhiều vào yếu tố xúc tác quan trọng nhất là vitamin D. Do đó, bạn nên cho trẻ vận động và tắm nắng buổi sáng hàng ngày trước 9 giờ. 

Bạn cần lưu ý, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng để tay, chân, lưng... của trẻ lộ ra ngoài, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng. Đừng bỏ phí ánh nắng mặt trời - “của trời cho”. Dùng đơn thuần canxi không đủ mà phải đồng thời kết hợp cùng vitamin D. 

Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa vật lý liệu pháp tại các bệnh viện. Dưới da có sẵn các tiền vitamin D dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời, các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho. 

Trẻ chậm mọc răng do bị thiếu canxi: Nguồn dinh dưỡng chính của bé khoảng 6 tháng tuổi vẫn là sữa mẹ. Thông thường, bé bú mẹ hoàn toàn sẽ được cung cấp đầy đủ canxi. Trường hợp trẻ thiếu canxi dễ xảy ra với nhóm bú bình (kể cả những đứa trẻ bụ bẫm vẫn có thể bị thiếu canxi do nhu cầu về canxi cao hơn trẻ bình thường). 

Trẻ em và cả người mẹ đều có thể thiếu canxi do chất lượng sữa mẹ kém (nguyên nhân là do người mẹ ăn uống kiêng khem hoặc chế độ dinh dưỡng nghèo nàn). Mặt khác, tỷ lệ canxi trong thức ăn được hấp thu liên quan đến một tỷ lệ phù hợp của một chất khoáng khác là phospho. 

Thức ăn có nhiều loại chứa hàm lượng phospho cao nhưng lại có ít loại chứa canxi mà hàm lượng lại thấp như tôm, tép, trứng, sữa, các loại ngũ cốc, rau, củ... Khi tỷ lệ phospho quá cao, trẻ hấp thụ quá nhiều phospho - sự hấp thụ canxi sẽ giảm đi. Sự cần thiết cho sự hấp thụ canxi là vitamin D. 

Nguồn cung cấp chủ yếu từ ánh sáng mặt trời chiếm tới 80%. Nếu thiếu nó sẽ bị rối loạn hấp thu và chuyển hóa canxi. Thức ăn hàng ngày (tôm, cua, cá, sữa) chứa nhiều vitamin D nhưng vì vitamin D là một loại vitamin tan trong dầu nên nếu chế độ ăn không đủ chất béo, dù có uống vitamin D cơ thể vẫn không thể hấp thu được. 


BS. Đỗ Thị Thu Nga
Click đọc ngay…

Cách chăm sóc trẻ mới ốm dậy đúng cách

10:52 |
Trong những năm đầu của cuộc đời, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc trẻ là điều rất cần thiết để trẻ khỏe mạnh, phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần. 

Đặc biệt khi trẻ mới ốm dậy, cơ thể và sức đề kháng còn rất yếu, nên bé cần được chăm sóc đặc biệt. Đôi khi những cách chăm sóc bé không đúng khoa học đã để lại những hậu quả không tốt và đáng ngại hơn cả là suy dinh dưỡng.

Có nên bồi bổ quá mức? 



Các bé sau khi ốm dậy thường bị sút cân, xanh xao và cơ thể yếu ớt. Các bậc cha mẹ thường hay xót con, liền lập tức ra chợ mua về đủ các loại thực phẩm dinh dưỡng để tẩm bổ cho con, hy vọng con sớm tăng cân khỏe mạnh trở lại. 

Và khi con không ăn được thì liền làm đủ mọi trò nịnh nọt, dọa nạt bé để bắt bé ăn. Đây quả thực là một thói quen xấu và sai lầm trong cách chăm sóc bé của các bậc cha mẹ. Bởi họ không hiểu được tâm lý của con lúc này. 

Trên thực tế, trẻ vừa mới trải qua một thời kỳ khó khăn, mệt mỏi vì phải chống đỡ lại bệnh tật. Cơ thể bé còn yếu và mọi cơ quan, chức năng, tất nhiên không loại trừ cả hệ tiêu hóa của trẻ cũng còn đang rất mệt mỏi và ít hoạt động. Trẻ lúc này thường không có cảm giác thèm ăn, ngại ăn những loại thực phẩm rắn và lười tiêu hóa. 

Để trẻ ăn ngon miệng và đủ chất dinh dưỡng 

Lúc này bạn nên chiều theo ý muốn ăn uống của con, cho con ăn những món con ưa thích, mục đích là để kích thích trẻ có cảm giác muốn được ăn, thèm ăn. Tuy nhiên, những món ăn đó cần lành mạnh, không quá ảnh hưởng tới dạ dày và sự tiêu hóa của trẻ. 

Để bé có bữa ăn ngon, người chăm sóc trẻ phải biết cách chế biến thức ăn, nếu chỉ cho ăn nước thịt, nước xương, nước rau luộc thì dù ăn đủ số bữa trẻ vẫn suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu. Vì vậy ngay cả khi bé ốm vẫn phải cho trẻ ăn cả cái, kể cả rau xanh. Trẻ càng nhỏ thì thức ăn càng phải xay nhỏ, băm nhỏ, giã nhỏ. 

Muốn biết trẻ đã được ăn uống đúng và đủ chưa, cần theo dõi cân nặng của trẻ trên biểu đồ phát triển, nếu trẻ lên cân đều đặn tương ứng với kênh A trên biểu đồ là trẻ đã được nuôi dưỡng tốt. Còn không lên cân, hoặc tụt cân thì có thể trẻ bị bệnh hoặc nuôi dưỡng không đúng. Cần tìm nguyên nhân can thiệp sớm. 

Ngoài ăn, bạn cũng nên lưu ý chuẩn bị và cho bé uống nước thường xuyên. Có những bé sẽ thích uống sữa, có bé lại bị nôn mửa khi uống. Có thể cho bé uống thay đổi các loại nước như: nước trắng, nước trái cây hoặc sữa tùy theo ý thích của bé nhưng không nên cho bé uống nước ngọt có ga. 



Những việc cần làm trong chăm sóc bé ốm 

Thay vì ép trẻ ăn nhiều trong mỗi bữa, mẹ hãy cho bé ăn thành nhiều bữa trong ngày, và số lượng cho từng bữa ít đi. Mỗi bữa ăn cho trẻ cần giàu chất dinh dưỡng hơn, nên nấu nhừ, loãng cho bé dễ ăn. Không kiêng khem quá mức. 

Có những cha mẹ sai lầm khi không cho bé ăn các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như: tôm, cá, dầu mỡ và các loại rau xanh. Điều này là sai. Khi trẻ ốm sốt, hay sau khi ốm dậy cơ thể thường mệt mỏi, mất hoặc thiếu nước. Vì thế bạn cần cho bé uống nhiều nước, vì đây cũng là cách bé có thể bổ sung dinh dưỡng nhanh nhất và dễ dàng nhất, đặc biệt cần thiết đối với các bé bị tiêu chảy. 

Tuy nhiên nếu trẻ bị tiêu chảy nên tránh cho trẻ ăn những thức ăn có chứa nhiều đường, nước ngọt có ga vì có thể làm cho tình trạng tiêu chảy nặng hơn. Ngoài ra cần tránh các thức ăn có nhiều chất xơ, ít dinh dưỡng như rau thô, tinh bột nguyên hạt như ngô, đỗ gây khó tiêu cho trẻ. Nếu trẻ bị viêm nhiễm hô hấp, bị sổ mũi cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để trẻ có thể bú mẹ và ăn uống bình thường. 


BS. Trần Thị Hạnh
Click đọc ngay…

Đề phòng sớm dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa ở trẻ

10:19 |
Ngày nay, với kỹ thuật siêu âm và chẩn đoán trước sinh, nhiều dị tật bẩm sinh được phát hiện ngay trong thời kỳ bào thai, giúp cho gia đình bệnh nhân chủ động hơn trong việc chuẩn bị điều trị. Việc phát hiện sớm còn giúp bệnh nhân có kết quả điều trị tốt hơn, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. 

Một số dị tật đường tiêu hóa ở trẻ cần phát hiện và điều trị sớm 

Thoát vị trong dây rốn và khe hở thành bụng 

Thoát vị trong dây rốn là dị tật bẩm sinh của thành bụng. Tạng trong ổ bụng chui ra ngoài qua vòng rốn không khép kín và được che phủ bởi màng ối trong mờ, vô mạch. Hầu hết thoát vị trong dây rốn có túi thoát vị, với kích thước khác nhau. 



Màu túi lúc đầu trong, nhìn qua thành túi thấy được các tạng như gan ruột bên trong, sau một vài ngày thành túi mờ đục dần trở thành màu sữa. Cổ túi ở vị trí khuyết thành bụng, có thể rộng hoặc hẹp với kích thước khác nhau. Dây rốn thường lồng dính vào trong thành túi ở vị trí giữa hoặc ở dưới túi. Biến chứng vỡ túi có thể xảy ra ở thời kỳ trước, trong và sau đẻ. 

Nếu túi thoát vị bị vỡ trong thời kỳ bào thai thì ruột non sẽ ra khỏi ổ bụng và ngâm trong nước ối, sau đẻ dễ nhầm lẫn với khe hở thành bụng. Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn gây viêm phúc mạc. Cổ túi hẹp sẽ gây nghẹt ruột, dẫn đến thủng ruột, tình trạng này xảy ra trong thời kỳ bào thai sẽ gây thủng ruột gây viêm phúc mạc phân su và có thể có teo ruột thứ phát. 

Các dị tật phối hợp thường khá cao, khoảng 50% như dị dạng về nhiễm sắc thể, bàng quang lộ ra ngoài, thoát vị hoặc sổ cơ hoành, dị tật về tim mạch... Nếu trẻ bị dị tật này cần phải chăm sóc cẩn thận, tránh bị vỡ túi thoát vị. Phẫu thuật là biện pháp duy nhất xử trí dị tật và phải tiến hành mổ nhiều lần, sao cho đảm bảo đưa hết tạng vào bụng đúng vị trí. 

Dị tật khe hở thành bụng

Là ở khe dọc của thành bụng, cạnh rốn mà qua đó ruột nguyên thuỷ chui ra ngoài. Khuyết hụt của thành bụng cạnh rốn thường là bên phải, dây rốn bình thường và thường cách khe hở thành bụng một cầu da. 

Dị tật này xảy ra vào tuần lễ thứ 9 của bào thai, do rối loạn phát triển lá thành phôi, thiếu khúc cơ nguyên thuỷ và trung mô, tiêu biểu mô. Ruột chui qua khe hở thành bụng ngâm trong nước ối. Do viêm phúc mạc nên thành ruột dày và phù nề, ruột dính vào nhau và rất ngắn, thường có rối loạn quay của ruột. Gan không bị lộ ra ngoài nhưng có thể thấy buồng trứng và tinh hoàn lạc chỗ. 

Các dị tật và tổn thương phối hợp có thể gặp là teo ruột, hoại tử hồi tràng, thủng tá tràng, viêm ruột hoại tử... Ngay sau khi sinh trẻ phải được điều trị ngay như thoát vị dây rốn nhưng cần chú ý tình trạng thân nhiệt, bảo vệ ruột lộ ra ngoài và chuyển ngay tới trung tâm phẫu thuật nhi. Sau khi phẫu thuật, trẻ được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, sau đó kết hợp dần với nuôi dưỡng bằng ống thông qua dạ dày - ruột. 



Dị tật hậu môn - trực tràng (HMTT) 

Đây là dị tật không có lỗ hậu môn, có hoặc không có đường rò từ ống hậu môn, trực tràng ra tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu, cơ quan sinh dục. Sự rối loạn phát triển ở một giai đoạn nào đó của bào thai dẫn đến dị tật này. 

Có các loại dị tật HMTT sau: cao, trung gian, thấp và hiếm gặp. Đối với dị tật không có rò từ ống HMTT thì da ở vị trí vết tích hậu môn căng phồng khi trẻ khóc, có thể thấy màu xanh phân su nếu màng bịt hậu môn mỏng, đục mờ. Hoặc da ở vị trí hậu môn phẳng hoặc lõm ngay cả khi trẻ khóc. Dùng kim châm nhẹ kích thích da hậu môn thấy có phản xạ co thắt là có cơ thắt ngoài. 

Đối với dị tật có lỗ rò HMTT, phải đợi từ 18-24 giờ sau đẻ mới có thể đánh giá chính xác được bằng thăm dò hoặc xoa ép nhẹ vùng tầng sinh môn hoặc niệu đạo. Có sự khác nhau giữa nam và nữ. 

Ở trẻ trai: Lỗ rò có thể ra ở tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu thường là ở niệu đạo. Lỗ rò ở đường đan của tầng sinh môn hoặc bìu. Trẻ đái ra phân su; đối với trẻ gái cần quan sát xem có mấy lỗ ở tầng sinh môn. Nếu có một lỗ duy nhất tại vị trí giữa hai môi lớn là dị tật thể đặc biệt: còn ổ nhớp. Ở thể bệnh này, niệu đạo, âm đạo, trực tràng đổ chung vào một ống gọi là ổ nhớp. 

Một thể bệnh hiếm gặp hơn là âm đạo bị teo cao, chỉ có niệu đạo và trực tràng đổ chung vào một ống là hoặc trực tràng teo cao không thông với xoang niệu dục. Khám có dấu hiệu tắc ruột, có thể bí đái, tử cung căng to ứ dịch. 

Trường hợp có hai lỗ niệu đạo và âm đạo, không có lỗ hậu môn, nếu phân su ra qua lỗ âm đạo là rò trực tràng - âm đạo (dị tật thể cao hoặc trung gian). Có 3 lỗ: niệu đạo, âm đạo và một lỗ ở âm hộ hoặc tiền đình hoặc tầng sinh môn. Có thể xảy ra lỗ rò ở tiền đình (vị trí giao nhau của hai môi bé, ngoài màng trinh); lỗ rò âm hộ hay lỗ rò ở tầng sinh môn. 

Dị tật HMTT hiện nay được xử trí khá hoàn thiện tại các trung tâm ngoại nhi, tuỳ theo mức độ dị tật và tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân mà tiến hành mổ một lần hoặc nhiều lần. Hầu hết các trường hợp đều cho kết quả tốt. 

Phòng dị tật bẩm sinh như thế nào? 

Để phòng dị tật bẩm sinh, các cặp vợ chồng cần chuẩn bị sức khoẻ tốt khi quyết định sinh con. Người mẹ cần tiêm các loại vaccin phòng bệnh trước khi có thai như vaccin phòng bệnh Rubella, cúm. 

Trong thời gian mang thai không nên tiếp xúc với hoá chất độc hại, không sử dụng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, ăn đủ chất dinh dưỡng, có tinh thần thoải mái. Nếu trong gia đình có người bị dị tật, khi mang thai cần đi thăm khám thường xuyên hơn những người bình thường để kịp thời được tư vấn hướng dẫn biện pháp chăm sóc thai sản và sau sinh. 


TS. Trần Ngọc An
Click đọc ngay…