Sử dụng thuốc ho đúng cách cho người cao tuổi

10:37 |
Ho là một triệu chứng mà người cao tuổi hay gặp, họ thường đến gặp thầy thuốc với dáng vẻ thiểu não do ho làm trầm trọng thêm tình trạng mất ngủ, làm cho bệnh mạn tính nặng hơn và nhiều khi làm cho họ không kiểm soát được tiểu tiện. Do đó, giảm và chấm dứt cơn ho là yêu cầu cần thiết giúp người cao tuổi tránh được nỗi lo lắng, bất an. 

Có nhiều nguyên nhân gây ra ho. Đối với mỗi nguyên nhân thì cách sử dụng thuốc cũng khác nhau nhưng có một nguyên tắc chung là dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây ho và không nên dùng thuốc làm ngắt cơn ho. 

Dưới đây là một số nguyên nhân gây 


Ho do nhiễm khuẩn 

Trước hết phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị nguyên nhân gây ho. 

Ở người cao tuổi, do sức đề kháng đã giảm, mức độ hấp thu thuốc kháng sinh, việc thải độc qua gan thận cũng giảm theo, nhất là các loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm amynoglycoside, sulfamide (co-trimoxazol)... Bên cạnh đó, chức năng thận suy giảm làm cho kháng sinh dễ gây độc cho gan nên cần phải giảm liều. 

Từ những lưu ý như vậy nên khi được chẩn đoán ho do nhiễm khuẩn trong các bệnh viêm mũi xoang, viêm họng, viêm phế quản... thì người cao tuổi cần phải được sử dụng kháng sinh sớm. Nhóm kháng sinh được lựa chọn an toàn nhất là nhóm beta lactam. 

Nếu cần phối hợp thuốc, phải cân nhắc tính đối kháng hay tính hiệp đồng của thuốc. Nắm vững cơ địa, tiền sử bệnh và các thuốc đang sử dụng của người bệnh. Ngoài ra, đối với người bị ho do viêm phế quản mạn tính thì cần cân nhắc sử dụng thuốc long đờm nhằm tạo điều kiện để phản xạ ho tống chất tiết ra ngoài làm thông đường dẫn khí. 

Nếu chất tiết ít nhưng đặc khó tống ra ngoài thì dùng thuốc làm loãng chất tiết như natri benzoat, terpinhydrat. Nếu chất tiết nhiều và đặc, việc làm loãng sẽ tăng thể tích gây khó khăn cho việc thông khí thì dùng các chất khử chứa lưu huỳnh như acetylstein, carboxystein. 

Có thể dùng thuốc làm giảm ho nhưng với liều thích hợp chứ không vì muốn hết ho ngay mà dùng liều quá cao, vì liều quá cao sẽ làm mất hết phản xạ ho, nghĩa là làm cho việc tống chất tiết bị trở ngại. Sử dụng thuốc kháng viêm để tránh tình trạng thông khí bị trở ngại. Có thể dùng corticoid uống, xông hay hít nhưng phải tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ vì thuốc có thể gây tác dụng phụ toàn thân. 

Trong một số trường hợp cần thiết, người bệnh còn được sử dụng thuốc chống tắc nghẽn phế quản làm giãn phế quản nhằm giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí như theophylin, các thuốc chủ vận beta 2 (loại tác dụng ngắn như salbutamol, terbutalin, fenoterol và loại có tác dụng dài như salmeterol, formoterol).

Ho do thuốc điều trị tăng huyết áp 

Đối với người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp, việc sử dụng thuốc, nhất là coversyl để hạ huyết áp có thể gây ho do kích ứng niêm mạc. Thực tế cho thấy, hiện tượng ho khan thành cơn khi sử dụng coversyl chiếm tới 1/3 số người sử dụng thuốc. Việc điều trị cắt cơn ho sẽ khó khăn nếu không phát hiện ra nguyên nhân này, có bệnh nhân đã phải chịu đựng cơn ho tới hàng năm. 

Trong các trường hợp này, biện pháp xử trí tốt nhất là phải đổi thuốc điều trị huyết áp kết hợp với sử dụng thuốc ức chế cơn ho và chống dị ứng trong giai đoạn đầu. Thuốc ức chế cơn ho có codein có tác dụng giảm ho do tác dụng ức chế trung tâm hô hấp. 

Cần lưu ý khi sử dụng thuốc ho cho người cao tuổi

Sau khi uống, tác dụng giảm ho xuất hiện trong vòng 1 - 2 giờ và có thể kéo dài 4 - 6 giờ. Codein được chuyển hóa ở gan và thải trừ ở thận dưới dạng tự do hoặc kết hợp với acid glucuronic. 

Ở liều điều trị codein ít gây co thắt mật và gây nghiện hơn so với morphin. Tuy nhiên không sử dụng thuốc này cho người có tiền sử hen phế quản, COPD - tâm phế mãn ở người cao tuổi. Ngoài ra, cần sử dụng thêm thuốc kháng histamin H1. Loại thuốc này được hấp thu nhanh sau khi uống và đều có chuyển hóa trong gan. Do thời gian bán thải ở người cao tuổi kéo dài hơn nên thường phải giảm liều và sử dụng trong thời gian ngắn. 

Ho do trào ngược dạ dày - thực quản 

Ho do trào ngược dạ dày - thực quản xảy ra khi cơ vòng thực quản bất thường, không khép kín hẳn sau khi thức ăn đã xuống dạ dày và làm dịch chứa acid chảy ngược từ dạ dày lên trên thực quản, đi đến họng, gây kích thích phản xạ thực quản - khí quản - phế quản và gây ho. 

Để điều trị chứng ho này cho người bệnh, bác sĩ thường sử dụng thuốc kháng histamin H2 như: cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin. Chúng ức chế cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 ở tế bào thành dạ dày, nên ức chế bài tiết cả dịch acid cơ bản (khi đói) và dịch acid do kích thích (bởi thức ăn, histamin, cafein, insulin...). 

Các thuốc nhóm này có tác dụng làm liền các vết loét dạ dày và tá tràng, làm giảm bệnh trào ngược dạ dày - thực quản, từng bước giảm và ngắt cơn ho. 

Ho do các khối u của đường thở hoặc chèn ép đường thở 

Loại ho do bệnh lý này thường giảm khi dùng thuốc ức chế cơn ho nhưng không bao giờ hết triệu chứng, do đó phải kết hợp với loại bỏ khối u nếu có thể. 


TS.BS. Phạm Bích Đào
Xem thêm thông tin bạn cần:

>>> Thuốc chữa ho thường dùng

>>> Nguyên nhân ho kéo dài ở người cao tuổi


Click đọc ngay…

Các loại bệnh tự miễn thường tăng theo tuổi tác

20:36 |
Nhiều nghiên cứu cho biết, khi tuổi càng cao, bệnh tự miễn xảy ra càng nhiều. Bệnh gây tổn thương ở nhiều cơ quan, nhưng thường gặp ở tuyến giáp, dạ dày, tụy tạng, thượng thận... và các bệnh tự miễn thường có liên quan với nhau. 

Thế nào là bệnh tự miễn? 

Bình thường, hệ thống miễn dịch có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại các loại virut, vi khuẩn gây bệnh, hệ miễn dịch không chống lại các tế bào của cơ thể. Gọi là phản ứng tự miễn khi hệ miễn dịch tấn công các tế bào của cơ thể. 


Các nghiên cứu cho thấy: một số vi khuẩn, virut, độc tố và các loại thuốc đã kích hoạt một đáp ứng tự miễn của cơ thể làm cho hệ miễn dịch hoạt động quá mức, gây ra phản ứng tự miễn. Bệnh tự miễn là bệnh do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công vào tế bào của các cơ quan bị bệnh. Sau đây là các bệnh thường gặp và mối liên quan của chúng với nhau. 

Tự miễn dịch kháng giáp trạng 

Một số bệnh tự miễn xảy ra ở tuyến giáp trạng là: viêm tuyến giáp Hashimoto, viêm giáp trạng mạn tính lymphô bào. Biểu hiện bệnh thường là một đợt cường tuyến giáp trạng, tổn thương dẫn đến suy giáp trạng, phù niêm. 

Trong các bệnh này, phát hiện được rất nhiều kháng thể kháng giáp như thyroglobulin, các chất coloit, tế bào biểu mô, nang, nhân. Trong đó, loại có khả năng gây bệnh phần lớn là các kháng thể kháng bào tương. Nhưng không có mối tương quan giữa số lượng kháng thể và mức độ nặng hay nhẹ của bệnh. 

Tự miễn kháng dạ dày 

Bệnh tự miễn kháng dạ dày ở người cao tuổi là bệnh viêm teo dạ dày có độ toan dạ dày giảm, yếu tố nội tại mất trong dịch vị. Có hai loại kháng thể hay gặp là kháng thể kháng microsom của các tế bào thành dạ dày và kháng thể kháng yếu tố nội tại. Nồng độ các kháng thể này tăng theo tuổi. 

Ở độ tuổi già, số người bị viêm teo dạ dày ở cụ bà nhiều gấp đôi ở cụ ông. Tổn thương bệnh không chỉ ở bộ máy tiêu hóa mà còn ảnh hưởng đến máu vì dạ dày là cơ quan hấp thu sắt và vitamin B12. 

Tự miễn kháng thượng thận và kháng tụy 

Ở bệnh nhân suy thượng thận mạn tính vô căn, hay gặp kháng thể kháng thượng thận. Nhưng kháng thể này lại không gặp ở bệnh nhân Addison thứ phát do lao hoặc nguyên nhân khác. 

Bệnh đái tháo đường và các rối loạn chức năng điều hòa glucid hay gặp ở người cao tuổi. Đồng thời, người ta cũng đã chứng minh được có hiện tượng gắn insulin huỳnh quang ở các tổn thương tổ chức của đái tháo đường như ở võng mạc, cầu thận... Ở tuyến tụy đã tìm thấy nhiều kháng thể kháng tế bào tuyến nang trong viêm tụy tạng mạn tính.

Liên quan giữa các bệnh tự miễn dịch 

Ở cùng một bệnh nhân, có thể phát hiện được nhiều tự kháng thể kháng cơ quan khác nhau như các kháng thể kháng các cơ quan nói trên. Trên thực tế cho thấy: những bệnh nhân mắc bệnh tuyến giáp thường kèm theo thiếu máu ác tính do thiếu vitamin B12. Bệnh nhân bị suy dạ dày chức năng cũng đồng thời bị rối loạn tuyến giáp. Bệnh nhân bị thiếu máu Biermer cũng hay có kháng thể kháng thượng thận hay kháng giáp. 

Tương tự ở bệnh nhân đái tháo đường, các bác sĩ đã phát hiện được kháng thể kháng giáp, kháng dạ dày, kháng yếu tố nội tại, ở người cao tuổi càng hay gặp sự phối hợp của nhiều kháng thể. 

Thực hiện chế độ sinh hoạt khoa học khi còn trẻ phòng chống tự miễn

Các bệnh tự miễn khác 

Bệnh tiêu hóa: nhiều bệnh nhân mắc hội chứng Siogren có kháng thể kháng tuyến nước bọt. Bệnh viêm trực đại tràng chảy máu, được xếp vào loại bệnh tự miễn. Ở bệnh nhân xơ gan mật tiên phát có tự kháng thể kháng ty lạp thể... 

Bệnh tim mạch: ở bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim có nhiều kháng thể kháng cơ tim, các kháng thể này tấn công các protein có sợi cơ, xuất hiện nhất thời và mất đi trong vòng vài tuần hoặc vài tháng, gây nên hội chứng sau nhồi máu cơ tim. Bệnh nhân bị vữa xơ động mạch có cơ chế tự miễn chống lại tổ chức liên kết của động mạch, trong đó có elastin là một tự kháng nguyên. Tiêu bản tổn thương tự miễn tuyến giáp. 

Bệnh tiết niệu: phản ứng immuas-globulin bất thường trong bệnh viêm bể thận, viêm thận mạn ở người cao tuổi. Ở bệnh nhân bị tăng huyết áp do bệnh thận, có yếu tố tự miễn dịch. 

Bệnh khớp: trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp có các tự kháng thể thuộc loại globulin to, kiểu IgM có tính đặc hiệu cao. Ở bệnh nhân viêm khớp thường tồn tại những yếu tố dạng thấp có đặc tính khác nhau, được tiết ra tại tổn thương thấp như plasmocyt thâm nhiễm màng hoạt dịch bị tổn thương. 

Bệnh yếu tố kháng nhân: gặp ở bệnh luput ban đỏ hoặc ở mọi bệnh chất tạo keo khác. Bệnh nhân tuổi càng cao, càng hay gặp các yếu tố kháng nhân dù không có hay ít có triệu chứng lâm sàng. 

BS. Đinh Lan Anh 

Lời khuyên của bác sĩ 

Hiện nay, cơ chế gây bệnh tự miễn chưa được biết rõ. Nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy, một số vi khuẩn, virut, độc tố của chúng đã kích hoạt mộtđáp ứng tự miễn của cơ thể làm cho hệ miễn dịch hoạt động quá mức, gây ra phản ứng tự miễn. Vì vậy, để hạn chế bệnh tự miễn, cần phòng tránh các bệnh do virut và vi khuẩn gây ra. 

Các biện pháp phòng bệnh gồm: thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh cá nhân, rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh, sau khi lao động và trước khi ăn. 

Không dùng chung khăn mặt, dụng cụ ăn hoặc bàn chải đánh răng. 

Không dùng chung bơm kim tiêm. 

Quan hệ tình dục an toàn. 

Hạn chế bia rượu. 

Tiêm chủng vaccin phòng bệnh do virut gây viêm gan, viêm não... 


Xem thêm các bài viết liên quan:

>>> Thuốc điều trị bệnh tự miễn

Click đọc ngay…

7 Thay đổi về thể chất khi về già khiến nhiều người mơ hồ

11:30 |
Ai cũng có tuổi xuân, ai cũng phải về già và trong quá trình phát triển, cơ thể con người diễn ra hàng loạt thay đổi, âm thầm và nhẹ nhàng đến mức người trong cuộc ít khi nhận thấy. Trong số này có 7 phát hiện dưới đây vừa được khoa học nghiên cứu, kiểm chứng.

1. Khi về già, con người ngày càng được giải phóng 

Nhiều người có quan niệm khi về giả cơ thể lão hóa thì tính cách con người cũng trở nên “cứng nhắc” và bảo thủ hơn, song ngộ nhận này đôi khi không chính xác.


Bằng chứng, sau khi nghiên cứu ở 46.000 người Mỹ tronggiai đoạn từ 1972 - 2004, các chuyên gia ở ĐH Vermont và ĐH Pennsylvania Mỹ đã phát hiện thấy khi có tuổi, tính cách và thái độ của con người có thay đổi, nó không mang tính cực đoan như khi còn trẻ, tư tưởng được “giải phóng” về mọi phương diện, kể cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, giới tính, chủng tộc, tín ngưỡng, thậm chí cả những vấn đề liên quan đến tình dục.

Ví dụ, những người tuổi 60 có chiều hướng ít bảo thủ hơn so với nhóm người 30 tuổi. Điều này thể hiện rất rõ trong những kỳ bầu cử, những người cao niên thường không bỏ phiếu ủng hộ cho những ứng viên bảo thủ mà họ lại ủng hộ những nhân tố mới đang lên,kết quả hai cuộc bầu cử ở Mỹ mới đây là một ví dụ.

2. Tế bào gốc của cơ thể cũng bắt đầu già đi 

Ngay dưới da là những tế bào gốc, những tế bào gốc này bắt đầu lão hóa dần theo năm tháng giống như tuổi tác. Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS số ra gần đây, các tế bào gốc có nhiệm vụ giảm lão hóa bằng cách hay thế các tế bào gốc bị lão hóa hoặc bị tổn thương nhưng tế bào gốc cũng bị lão hóa, suy giảm khả năng tái sinh khi thân chủ già.

Nghiên cứu trên được thực hiện ở chuột, trong đó các nhà khoa học tiến hành quan sát quá trình tăng trưởng của tế bào gốc lấy từ tủy xương của những con chuột già và chuột trẻ.Các tế bào này sau đó được đưa vào cho những con chuột có tủy xương bị mắc bệnh.

Ban đầu tế bào gốc của những con chuột trẻ lẫn già đều phát triển thành những tế bào mới với tốc độ như nhau, nhưng càng về sau tốc độ phát triển của các tế bào gốc của những con chuột già bắt đầu giảm mạnh so với những con chuột trẻ.

Qua nghiên cứu cho thấy vấn đề di truyền đóng vai trò quan trọng, tế bào gốc của những con chuột già có mức viêm nhiễm và stress cao hơn so với những tế bào gốc của những con chuột trẻ.

3. Vì sao khi về già người ta lại ngủ ít hơn? 

Sau khi nghiên cứu ở 110 người lớn khỏe mạnh ngủ đủ 8 tiếng/ngày các nhà khoa học phát hiện thấy nhóm người cao tuổi nhất trong số này (55 - 83) ngủ ít hơn so với nhóm trung tuổi (40 - 55) tới 20 phút và nhóm người trung tuổi ngủ ít hơn tới 23 phút so với nhóm trẻ tuổi (20 - 30).

Giải thích đơn giản nhất cho hiện tượng này là thời gian nhắm mắt ít hơn. Giải thích khác được dựa trên khoa học là khi người ta cao tuổi cơ thể không cần phải ngủ nhiều, đôi khi nằm nhiều nhưng thời gian nhắm mắt lại ngắn, thời gian ngủ chất lượng giảm, thời gian trăn trở tăng.

Hiện tượng này thường thấy ở nhóm người trên 65. Lý do có nhiều nhưng phải kể đến nguyên nhân tuổi tác, mắc bệnh rối loạn giấc ngủ, các loại bệnh làm tăng sự đau đớn, lo lắng và dẫn đến mất ngủ.

4. Trí nhớ suy giảm

Khi tuổi cao, sự hấp dẫn thể chất, hình thức cũng như trí nhớ con người bắt đầu suy giảm. Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở ĐH Toronto Canada, trí nhớ suy giảm, sự tập trung của con người bắt đầu kém dần theo tuổi tác. Tuy nhiên, sự suy giảm này ở mỗi cá thể cũng không đồng nhất. Thực ra thì sự suy giảm trí nhớ bắt đầu xuất hiện ngay từ độ tuổi trung niên.

Sự suy giảm trí nhớ của người già phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: não co ngót, do di truyền, do lối sống, do ăn uống, bổ sung dưỡng chất và có cả những yếu tố tác động từ môi trường. Ở những người có trí nhớ tốt, não khỏe thì khi về già não vẫn bị co ngót song mức độ co ngót chậm hơn.

5. Mọi cái bắt đầu “chảy sệ” 

 Khi tuổi cao, da bắt đầu lão hóa, tế bào da bị chết nên phát sinh hiện tượng có tên là biểu bì, da trở nên thô cứng, độ đàn hồi giảm dần, mỡ mặt chìm sâu vào các lớp da và làm cho da sệ kèm theo những nếp nhăn trên da. Mặc dù các thủ thuật thẩm mỹ như bơm chất độn, phẫu thuật thẩm mỹ, nâng cằm có thể cải thiện được sự cố chảy sệ nhưng phẫu thuật thẩm mỹ không làm xuể và cuối cùng người ta đã để kệ.

Bên cạnh đó, tuổi cao còn xuất hiện hiện tượng co ngót các mô làm cho cằm, má, hố mắt lõm sâu chỉ còn trơ “giàn giáo”. Tất cả những nỗ lực cố gắng tạo lại phần thịt cho các vị trí trên mắt đều không mang lại kết quả bởi tuổi tác, do chi phí quá cao, nhưng quan trọng nhất là mối lo tai biến sau phẫu thuật, viêm nhiễm và phát sinh tình trạng tê liệt. Vì lý do này những người già đã chọn giải pháp không cần can thiệp, hỗ trợ của dao kéo mà họ tập trung vào chăm sóc sức khỏe toàn thân, không quá câu nệ đến vẻ đẹp “mặt tiền”nữa.

6. Hài hước - bài thuốc tốt cho nhóm người cao niên 


Theo nghiên cứu do các nhà khoa học Canada thực hiện và công bố mới đây trên tạp chí Journal of the International Neuropsychological Society, hài hước, cười nhiều là bài thuốc tốt cho nhóm người cao niên. Thực tế, khi về già nhiều người vẫn hài hước, dí dỏm, nó không ảnh hưởng đến tính cách hay đạo đức của con người và tốt cho sức khỏe. Tính cách này làm tăng nhiều hưởng ứng có lợi cho sức khỏe.

Qua nghiên cứu ở 2 nhóm người cao niên, tất cả đều mắc bệnh cao huyết áp và bệnh đái tháo đường, được dùng thuốc tiêu chuẩn. Một nhóm có cuộc sống hài hước, cười nhiều còn nhóm kia thì ngược lại. Sau một năm kiểm chứng cho thấy nhóm cười nhiều giảm được hoóc-môn epinephrine và norepinephrin, tăng mỡ máu tốt HDL tới 26% trong khi đó nhóm không cười thì HDL chỉ tăng 3%.

Chưa hết, nhóm cười nhiều còn giảm được protein phản ứng C, chất gây viêm nhiễm và gia tăng bệnh tim tới 66% trong khi đó nhóm không cười thì protein này chỉ giảm được 26%.

7. Người già luôn có quan điểm sống tích cực 

Không chỉ có quan điểm sống tích cực mà nhiều người già còn là “cây cao bóng cả”, là tấm gương, chỗ dựa tinh thần cho con cháu, thậm chí có người còn làm ra tiền của vật chất giúp đỡ cho gia đình. Không phải người già là gánh nặng cho gia đình, xã hội như nhiều người lầm tưởng mà tuổi già thực sự mang lại hạnh phúc cho gia đình, và nhiều lợi ích cho cộng đồng, xã hội.

Theo nghiên cứu của ĐH Chicago, Mỹ, thực hiện gần đây cho thấy từ những năm 70 thế kỷ trước, tuổi thọ của con người tăng cao, sự tăng tuổi thọ này làm tăng trưởng tài sản, hạnh phúc và sức khỏe cho mọi người.

Cũng qua nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy nhóm người cao niên có “lăng kính hồng” thường có cả sức khỏe lẫn hạnh phúc, thậm chí còn hạnh phúc hơn cả những người trẻ tuổi cứ khư khư quan điểm nhìn đâu cũng thấy vô nghĩa, tiêu cực hay bệnh tật.
Click đọc ngay…

Giải pháp phòng rối loạn tiêu hóa cho người cao tuổi

21:30 |
Chứng rối loại tiêu hóa (RLTH) dễ đưa đến các hệ lụy xấu cho sức khỏe, đặc biệt là người cao tuổi (NCT). Hầu hết RLTH có thể phòng ngừa được nếu thực sự quan tâm đúng mức. 

Những rối loạn tiêu hóa thường gặp 

RLTH là một bệnh rất hay gặp ở NCT, bởi vì, khi tuổi đã cao, sức đề kháng yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công. Nhiều NCT hoặc con cháu của họ hay than phiền là ông bà, cha mẹ mình thường chán ăn hay kêu mệt mỏi, không muốn ăn, nếu không động viên thì rất dễ bỏ bữa.


Nhiều NCT cho biết họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ănnhư những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm bài tiết dịch vị (nước bọt,dịch dạ dày, dịch ruột, dịch mật...). 

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm để dễ nuốt, nhưng cũng khó khắc phục được, hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn.

Lý do gây nghẹn ở NCT có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng làm giảm sự co bóp của đường tiêu hóa, nhất là các cơ ở thực quản, dạ dày. Vì lý do suy giảm chức năng co bóp của đường tiêu hóa và các men tiêu hóa cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, trướng bụng, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mỡ, nhiều đạm. 

Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn các loại thức ăn bổ dưỡng như thịt, cá hoặc rất ngại uống sữa. NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm càng có tuổi bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày - tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày), viêm đại tràng co thắt, viêm đại tràng mạn tính. 

Sa dạ dày là một bệnh có thể gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thì gây phiền phức hơn nhiều do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ). 

Các bệnh RLTH và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là RLTH làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên. 

Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định thì việc tiêu hóa thức ăn tốt. Ngược lại, khi hệ thống gan, mật không tốt thì ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Do đó, một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, gan nhiễm mỡ, viêm đường mật mạn tính hoặc bệnh sỏi mật. 

Thống kê cho thấy, NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể. Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, đặc biệt táo bón ở NCT. Lý do gây táo bón ở NCT thì có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ít ăn rau, qủa hoặc ăn rất ít, thêm vào đó lại uống ít nước. 

Càng ăn ít rau, uống ít nước, kèm theo ít vận động thì hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu đi đến hệ thống thần kinh. 

Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh sẽ gây đau và chảy máu. Chính vì các lý do đó mà táo bón càng ngày càng nặng thêm gây đau quặn bụng, nhất là vùng bụng dưới và 2 hố chậu dễ nhầm lẫn với bệnh tiết niệu (viêm hoặc sỏi) hoặc viêm ruột thừa (hố chậu phải). 


NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên, bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, gây mất ngủ. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và đặc biệt là có sa sút trí tuệ thì táo bón kéo dài lại càng bất lợi cho bản thân người bệnh và cả người nhà. Nên lưu ý là khi tinh thần không thoải mái, căng thẳng cũng có khả năng gây táo bón. 

Có thể phòng bệnh ngừa được không? 

Phòng bệnh RLTH ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số NCT nhiều khi không cần dùng thuốc cũng có thể khỏi bệnh hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng RLTH cho NCT là có chếđộ ăn, uống hợp lý kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái. 

Một số NCT chán ăn, không thèm ăn thì người nhà cần động viên và nếu cần thì phải có động tác hỗ trợ trong các bữa ăn (động viên, bón cơm, cháo, uống nước), nhất là NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để giúp họ không bỏ bữa. 

Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thìnên ăn thêm củ khoai lang luộc, canh rau mồng tơi, rau đay. 

Nếu bị bệnh về dạ dày,viêm đại tràng, gan, mật thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi. 

Cần vận động cơ thể hàng ngày, đều đặn,nhẹ nhàng (xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ, đi bộ). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân, không nên ngồi một chỗ trong nhiều giờ. Nếu có điều kiện và sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn, chơi cầu lông, bơi lội… 

Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 - 3 lần tập, không tập một lúc 60 phút. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như đọc sách báo, xem vô tuyến, nghe đài… 


PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Click đọc ngay…

Bổ sung vitamin và khoáng chất cho người cao tuổi thế nào?

18:07 |
Dù với một lượng nhỏ nhưng vitamin (VTM) và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người, bởi nó là những chất xúc tác không thể thiếu trong quá trình chuyển hóa chất. 

Tuy nhiên, cơ thể không tự tạo ra VTM mà phải ăn vào từ thức ăn. Hơn nữa, các VTM không thể thay thế lẫn nhau. Hầu như tất cả chúng ta đều đang bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM. Đặc biệt, người cao tuổi (NCT) là đối tượng dễ thiếu VTM và khoáng chất hơn cả. 

Vai trò của vitamin và khoáng chất trong cơ thể 


Phần lớn các VTM hoạt động như một phức hợp hoạt hóa men, tham gia vào quá trình biến đổi dự trữ năng lượng trong cơ thể. Một số khác ảnh hưởng tới quá trình oxy hóa, nhiều loại có tác dụng cấu tạo nên hormon, tham gia vào quá trình tăng trưởng và khoáng hóa xương, hoạt động nhân lên của tế bào, tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, tổng hợp các chất trung gian của hệ thần kinh, đào thải, trung hòa các chất độc, làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể. 

Ví dụ, VTM tham gia vào hoạt động thị giác, giữ gìn chức phận của tế bào biểu mô trụ. Vitamin C có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cơ thể, làm bền vững thành mạch. Sắt có mặt trong mọi tế bào và rất cần thiết trong việc duy trì sự khỏe mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Hầu hết chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin-2 tế bào protein máu đỏ có nhiệm vụ vận chuyển ôxy đến các mô và cơ trong cơ thể. 

Vì sao người cao tuổi dễ bị thiếu vitamin và khoáng chất? 

Hầu như tất cả chúng ta đều bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM và khoáng chất, đặc biệt NCT dễ thiếu nhiều loại VTM. Thiếu VTM có thể do những nguyên nhân sau: do thiếu ăn, chất lượng lương thực thực phẩm không đảm bảo, quá trình bảo quản, chế biến không đúng. 

Do chất đất và nguồn nước từng khu vực; chế độ ăn kiêng, nghiện rượu, những người nghiện rượu thường bị thiếu B1 trầm trọng; rối loạn hấp thu, thường thấy ở người mắc bệnh đường tiêu hóa, NCT, do nhu cầu cơ thể tăng nhưng cung cấp không đủ... 

Một số bệnh do thiếu vitamin và khoáng chất 

Mặc dù trong cơ thể, VTM và khoáng chất chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra những rối loạn, phát sinh bệnh tật. Ví dụ, thiếu VTM A gây quáng gà, thiếu VTM C sẽ giảm sức đề kháng, gây chứng chảy máu dưới da, thiếu VTM B1 gây phù, thiếu VTM B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh; thiếu canxi gây co giật tay chân hay thiếu kali gây loạn nhịp tim; thiếu sắt gây thiếu máu. Các biểu hiện của thiếu sắt như: cơ thể yếu và mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, rụng tóc, đau đầu, móng yếu, dễ gãy... 

Làm gì để phòng thiếu vitamin và khoáng chất ở NCT? 

Các VTM và khoáng chất được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống hằng ngày. Nếu cơ thể khỏe mạnh, hấp thu tốt và bữa ăn phong phú, đa dạng thì không sợ thiếu các chất này. Vì vậy, để phòng ngừa thiếu VTM và khoáng chất, cần ăn uống thức ăn có đủ VTM và khoáng chất cần thiết cho cơ thể như ăn đa dạng các loại rau, củ, quả, thịt, cá, tôm, cua... 

Cần chế biến thức ăn mềm, dễ tiêu như súp hoặc xay nhuyễn hay ép dưới dạng sinh tố. Tuy nhiên, hầu hết các VTM B và C tan trong nước nên mặc dù có nhiều trong thức ăn nhưng qua quá trình bảo quản và chế biến sẽ mất đi rất nhiều. Cơ thể không dự trữ các VTM này vì chúng tan trong nước nên bị đào thải ra ngoài qua nước tiểu. VTM B12 là một ngoại lệ, được dự trữ tại gan. 

VTM tan trong dầu được hấp thu và vận chuyển cùng với mỡ. Cơ thể dự trữ các VTM này chủ yếu ở gan và mô mỡ. Vì vậy, khi cơ thể hấp thu quá nhiều các VTM này sẽ xảy ra hiện tượng ngộ độc. 

Đối với người già bệnh nặng kéo dài, sức khỏe suy giảm..., nên bổ sung các VTM và khoáng chất dưới dạng thuốc để đáp ứng nhu cầu VTM, chất khoáng của cơ thể. Tuy nhiên, bổ sung loại VTM hay khoáng chất nào, liều lượng cần bổ sung bao nhiêu và uống trong thời gian bao lâu... cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định. 

Nên nhớ mỗi loại VTM này khi bị thiếu không thể thay thế lẫn nhau. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở những người độ tuổi trung bình 48 - 78 tuổi thì sau 4 - 10 tuần bổ sung VTM và khoáng chất có cải thiện rõ rệt về sức khỏe như: giảm được mệt mỏi, tập trung tư tưởng tốt hơn, ăn ngon miệng hơn, dễ ngủ và thời gian ngủ kéo dài hơn... 


BS. Phạm Minh Nguyệt
Click đọc ngay…

Xử lý đúng sốt cao ở người cao tuổi

10:27 |
Sốt là phản xạ của cơ thể và với nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân có lợi nhưng đa số nguyên nhân là có hại, đặc biệt là sốt cao gặp ở trẻ em và NCT.

Khi NCT bị sốt, đặc biệt là sốt cao hoặc sốt rất cao, nếu không xử trí kịp thời thì rất có thể xảy ra một số biến chứng, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng như suy thận, trụy tim mạch. 

Sốt ở người cao tuổi do đâu? 


Sốt được phân chia một cách tương đối là sốt nhẹ (thân nhiệt từ trên 37oC đến dưới 38oC), sốt trung bình (thân nhiệt từ 38oC đến dưới 39oC), sốt cao (khi thân nhiệt trên 39oC đến 40oC) và sốt rất cao khi thân nhiệt trên 40oC. 

NCT do đặc điểm sinh lý có nhiều thay đổi theo năm tháng cho nên mọi chức năng của cơ thể của họ cũng thay đổi. Do sức đề kháng kém nên NCT rất dễ bị sốt. Nếu sốt nhẹ thì không đáng lo ngại, đôi khi là một phản xạ của cơ thể khi gặp điều kiện bất thường (nóng lạnh đột ngột, va vấp, chấn thương nhẹ). Nhưng đáng lo ngại nhất là khi NCT sốt cao hoặc rất cao. 

Sốt ở NCT có rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguy hiểm nhất là do các bệnh nhiễm khuẩn, virut hoặc ký sinh trùng. Có thể nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm họng, viêm mũi, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản. Nặng hơn là viêm phổi hoặc áp-xe phổi (đặc biệt do tụ cầu vàng), bệnh lao (lao phổi, lao màng bụng, lao cột sống, tinh hoàn hoặc lao toàn thể). 

Hoặc các nhiễm khuẩn đường tiêu hóa như viêm ruột cấp (thương hàn, tả, lỵ, ngộ độc thực phẩm); viêm đường mật cấp tính (đặc biệt là viêm túi mật cấp); viêm tụy cấp hoại tử hoặc viêm tụy cấp xuất huyết; viêm bàng quang cấp; sốt xuất huyết, sốt phát ban, viêm gan hoặc sốt rét. 

Ngoài ra, NCT cũng có thể bị sốt không do nhiễm khuẩn như bệnh ung thư, bệnh về máu, bệnh nội tiết... 

Bên cạnh đó, có một số trường hợp NCT sốt không rõ nguyên nhân mà thông thường người ta nghĩ đến sốt virut. 

Tác hại của sốt đối với người cao tuổi

Khi NCT bị sốt, đặc biệt là sốt cao hoặc sốt rất cao, nếu không xử trí kịp thời thì rất có thể xảy ra một số biến chứng, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng như suy thận, trụy tim mạch. Đối với hệ tim mạch thì có thể gây mạch nhanh, rối loạn nhịp tim, huyết áp tăng (nếu người bệnh có tiền sử tăng huyết áp thì rất nguy hiểm) hoặc tụt huyết áp (trụy tim mạch) do sốt gây mất nước, muối (ra nhiều mồi hôi hoặc kèm theo tiêu chảy).


Đặc biệt là sốt ở một số bệnh nhân đang mắc bệnh mạn tính như đái tháo đường, bệnh thận, bệnh thuộc hệ hô hấp (viêm phổi, hen suyễn, lao phổi, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính). Biến chứng hay gặp nhất là ở hệ thần kinh, nếu nhẹ thì nhức đầu, chóng mặt, nặng hơn thì lơ mơ, mê sảng, thậm chí gây hốt hoảng. 

Sốt ở NCT cũng có thể gây buồn nôn, nôn, đau khó thở, thở nông; cũng rất dễ gây nên tiểu tiện ít do nước được thoát ra theo đường bài tiết mồ hôi, do đó sẽ ảnh hưởng đến chức năng bài tiết của thận. bụng, chán ăn hoặc ăn vào không tiêu, ậm ạch rất khó chịu (viêm nhiễm đường tiêu hóa, tiết niệu). Sốt có thể làm cho NCT bị rối loạn nhịp thở như 

Cần làm gì khi người cao tuổi bị sốt? 

Khi NCT có dấu hiệu sốt thì cần phải cặp nhiệt kế xem bị sốt bao nhiêu độ. Tuy nhiên, một số trường hợp tuy bị nhiễm khuẩn nặng nhưng khi cặp nhiệt độ thì không thấy sốt, thậm chí thân nhiệt còn thấp hơn 37oC. 

Nguyên nhân là do sức đề kháng và phản xạ của cơ thể quá yếu, đặc biệt ở NCT, sức yếu, nằm lâu ngày, thiếu vận động hoặc ăn, uống kém, không hấp thu được hoặc suy dinh dưỡng nặng. Những trường hợp này cần được khám toàn diện mới đánh giá đúng bệnh. 

Nếu NCT bị sốt từ trên 38oC, trước hết nên giảm thân nhiệt bằng cách dùng một chiếc khăn, nhúng vào chậu nước mát hoặc làm ướt khăn mặt từ vòi nước mát đắp lên những vùng có mạch máu lớn chạy qua như trán, hai bên thái dương, hố nách, bẹn. Nên mặc quần áo mỏng, không đắp chăn và nằm ở nơi thoáng mát. 

Cần bù lượng nước và chất điện giải bị mất do mồ hôi ra nhiều bằng cách cho uống nhiều nước như nước chanh, cam, xoài, dưa hấu... và dung dịch ORS. Cứ 1 gói ORS 27,5g pha vào 1 lít nước đã đun sôi để nguội và cho uống theo nhu cầu. Hoặc có thể lấy 2 thìa gạt cà phê muối ăn và 8 thìa gạt đường pha vào 1 lít nước đun sôi để nguội hay dùng nước gạo rang để uống cũng được. 

Tuyệt đối không được truyền dịch tại gia đình hoặc ở phòng khám không đủ điều kiện chăm sóc và cấp cứu để phòng sốc. 

Khi thực hiện các biện pháp như vừa nêu trên mà thân nhiệt vẫn không xuống dưới 38oC thì có thể dùng thuốc hạ nhiệt paracetamol 0,5g mỗi lần, sau 4 - 6 giờ có thể dùng lại nếu vẫn còn sốt trên 38oC. 

Lưu ý thuốc paracetamol dạng viên sủi có thêm thành phần muối bicacbonat natri nên những NCT có tăng huyết áp không dùng. Hơn nữa, paracetamol nếu dùng dài ngày sẽ có nhiều tác dụng phụ, nhất là ảnh hưởng đến chức năng gan, thận. 

Nếu các biện pháp trên đã được áp dụng mà thân nhiệt không hạ về chỉ số bình thường thì nên đưa người bệnh đến cơ sở y tế để được chẩn đoán xác định nguyên nhân và được điều trị, tránh xảy ra những biến chứng đáng tiếc. 


PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Click đọc ngay…

Nguyên nhân ho kéo dài ở người cao tuổi

09:11 |
Ho là một phản xạ nhằm tống các vật lạ, chất tiết, khí độc, vi sinh vật... ra khỏi đường hô hấp do các nguyên nhân khác nhau, trong đó, ho kéo dài gây khó chịu cho người bệnh và làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của họ. 

Ho kéo dài có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở người cao tuổi (NCT), khi có chứng bệnh này xuất hiện thì cần hết sức lưu ý. 

Nguyên nhân gây ho kéo dài ở người cao tuổi

 

Ở NCT có thể gặp các loại ho khác nhau, ho húng hắng, ho từng cơn, ho khan, ho có đờm và ho kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Ho có thể là cấp tính hoặc mạn tính. Ho cấp tính thường kéo dài một vài tuần nhưng ho mạn tính có khi kéo dài nhiều tuần, thậm chí hàng tháng, có khi tới hàng năm. 

Ho kéo dài ở NCT đáng lưu tâm nhất là do bị lao phổi, u phổi, tràn dịch màng phổi. Ngày nay, lao phổi hoàn toàn có thể chữa khỏi được nên cần phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ. 

Một số nguyên nhân nữa mà NCT hay gặp do ho kéo dài là hen suyễn, đặc biệt là hen suyễn mạn tính. Ho ở NCT bị hen suyễn mạn tính thường có đờm lỏng hoặc đặc cho nên khi ho có tiếng lọc xọc như tiếng của điếu thuốc lào khi có người hút. Nếu điều trị cắt được cơn hen thì người bệnh sẽ giảm hoặc hết cơn ho. 

Một nguyên nhân gây ho ở NCT mà dễ bỏ sót là bệnh trào ngược dạ dày - thực quản. Ho trong trào ngược dạ dày - thực quản là do dịch vị trào ngược từ dạ dày lên gây kích thích niêm mạc đường hô hấp và làm tổn thương do tác động của dịch vị dạ dày. Trong trường hợp này, nếu phát hiện sớm, điều trị đúng và hết bệnh trào ngược dạ dày - thực quản thì hết cơn ho. 

Ngoài ra, một số bệnh thuộc viêm đường hô hấp như viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, khí phế thũng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) cũng gây nên cơn ho. Một số NCT nghiện thuốc lá, thuốc lào... cũng bị ho kéo dài. Khi 

Người cao tuổi bị ho kéo dài, cần làm gì? 

Ho kéo dài ở NCT có thể do nhiều bệnh khác nhau, vì vậy, cần bình tĩnh, không nên lo lắng thái quá và cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Khi đã được khám bệnh và xác định được nguyên nhân thì nên theo chỉ định của bác sĩ để điều trị cho dứt điểm. 

NCT không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình hoặc tự mua thuốc để điều trị. Nếu làm như vậy nhiều khi bệnh không những không khỏi mà còn nặng thêm, có khi gây nguy hiểm đến tính mạng. 

Việc cần làm là vệ sinh họng, răng, miệng hàng ngày bằng hình thức đánh răng và súc họng sau khi ăn, trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào bởi vì hút thuốc là nguyên nhân hay gặp nhất trong các bệnh của đường hô hấp. 

NCT cũng không nên uống nước lạnh, thậm chí nước đá. Nếu bị bệnh tăng huyết áp mà bác sĩ đã có chỉ định điều trị nhưng khi dùng thuốc thấy bị rát cổ, ho, nhất là vào ban đêm thì cần báo cho bác sĩ biết để thay đổi thuốc cho phù hợp. 


ThS.BS. Bùi Mai Hương
Click đọc ngay…

Bí quyết giúp người cao tuổi trường thọ

14:46 |
Khoa học nói rằng, chế độ ăn uống, tập thể dục như thế nào và gen của mỗi người ra sao… đóng vai trò trong việc xác định họ sẽ sống bao lâu. Tuy nhiên, những người đã hơn 100 lần được thổi nến lại có cách của riêng mình để trường thọ. 

Ăn lành mạnh và uống rượu hợp lý 

Cụ Alexander Imich, cư dân của TP New York, sinh ra ở Ba Lan năm 1903. Tháng 5-2014, một tháng trước khi qua đời ở tuổi 111, cụ nói với NBC New York rằng, cụ ở trạng thái khỏe mạnh là do ăn uống lành mạnh và kiêng rượu. Chế độ ăn uống của cụ gồm thịt gà và cá. Khi trẻ, cụ bơi nhiều và tập thể dục dụng cụ. 



Cụ Susannah Mushatt Jones bước sang tuổi 116 vào tháng 7-2015 và trở thành người sống lâu nhất thế giới – theo kỷ lục Guinness thế giới. Cụ luôn giữ chế độ ngủ và ăn đều đặn với thịt xông khói, trứng, bột kiều mạch cho bữa sáng. Người thân của cụ cho tờ USA Today biết, bí quyết sống lâu của cụ là tình yêu trong gia đình và rộng lượng, tử tế với người khác. 

Cụ Duranord Veillard cũng là dư dân TP New York, 108 tuổi, bắt đầu mỗi buổi sáng với một bát cháo bột yến mạch, trái cây, một tách trà và kết thúc với cá và rau. Theo tờ USA Today, cụ Veillard luôn thực hiện từ 5-7 động tác chống đẩy mỗi buổi sáng, thậm chí duy trì đến nay. 

Cụ tổ chức sinh nhật gần nhất vào tháng 2 vừa rồi với người vợ 82 năm chung sống, cụ Jeanne – người bước vào tuổi 105 hồi tháng 5. Cụ bà Agnes Fenton, cư dân ở New Jersey, sống 110 tuổi, mỗi ngày “vật đổ” 3 chai bia và một cốc whiskey. 

Cụ nói với ABC News hồi tháng 8-2015 rằng, chế độ uống bia rượu của cụ bắt đầu cách đây 70 năm khi bác sĩ khuyên cụ uống champagne - bia hàng ngày sau khi phát hiện cụ có khối u lành tính. A. Fenton theo lời khuyên của bác sĩ trong nhiều năm và bắt đầu ăn ít đi. Cụ Okawa là người cao tuổi nhất thế giới, qua đời vào tháng 4-2015. 

Theo tờ Mirror, cụ sống thọ là nhờ chế độ ăn – món sushi (món bánh nếp Nhật Bản), ngủ 8 tiếng mỗi đêm và thư giãn. Nhật Bản là quốc gia được cho là có 50.000 người sống trên 100 tuổi. Điều này được cho là, do chê độ ăn ít chất béo với món sushi và cá. 

Sống vui vẻ, hòa đồng 



Cụ Gertrude Weaver, một trong những người sống sót cuối cùng sinh ra trong thập niên 1800 khi cụ qua đời tháng 4-2015, thọ 116 tuổi. Lời khuyên của cụ để sống lâu “Hãy đối xử đúng và tốt với người khác theo cách mà bạn muốn người khác đối xử tốt với mình”. 

Cụ Weaver không uống rượu hoặc hút thuốc và ngủ nhiều. Cụ Jessie Gallan cả đời ăn nhiều cháo, nhưng không bao giờ sống với một người đàn ông. Trong 109 năm của mình, người phụ nữ này không bao giờ kết hôn. 

Tháng 1-2015, không lâu trước khi kỷ niệm sinh nhật 109 của mình và 3 tháng trước khi qua đời, cụ J. Gallan cho biết, việc thiếu đàn ông giúp kéo dài tuổi thọ của mình, cụ nói với tờ The Daily Mail “Đàn ông chỉ gây thêm rắc rối cho bạn thôi”. Cụ dành nhiều thời gian cho tập luyện và bắt đầu làm việc chăm chỉ từ khi 13 tuổi. 

Cụ Adelina Domingues, qua đời ở tuổi 114. Cụ A. Domingues không bao giờ bị gãy xương, không dùng bất cứ loại thuốc nào và không bao giờ phải đi viện. Bí quyết sống lâu của cụ là: Không bao giờ trang điểm. 

Cụ nói với tờ San Diego Union Tribune “Tôi chưa bao giờ đến một cửa hàng mỹ phẩm và không bao giờ phí thời gian vô ích”. Cụ không bao giờ hút thuốc hoặc uống rượu. 

Chăm tập thể dục 



Cụ bà Ruth Coben, 103 tuổi. Ngay cả khi bước qua tuổi 100, cụ Ruth Coben – cư dân thành phố New York vẫn nâng tạ, tập thể dục tăng cường sức khỏe mỗi tuần một lần. Cụ tiết lộ bí quyết sống lâu của mình trên blog thời trang Advanced Style rằng, hàng ngày cụ không xem lịch và khuyên mọi người hãy tập thể dục đều đặn nếu có thể. 

Cụ George Boggess, 103 tuổi: Sau khi phục vụ trong Thế giới thứ 2, cụ trở về và làm việc tại một tòa án, cụ hy vọng sống tới 105 tuổi. Lời khuyên của cụ muốn sống thọ là, đi bộ thật nhiều. Cụ Paul Marcus luôn đến trung tâm thể dục tại địa phương mình đúng giờ, kể cả khi bước sang tuổi 100. Mặc dù có được thể trạng sức khỏe tốt, cụ Marcus nói rằng, bí quyết trường thọ là may mắn. 

Cụ nói vớiDenver Post “Một là, bạn cần phải có gen tốt. Hai là, bạn cũng cần có may mắn và ba là, đừng cố ăn những gì được cho là lành mạnh. Sự thật là, tôi ăn bất cứ cái gì tôi muốn. Còn bí quyết trường thọ là kem”.
Click đọc ngay…

Chăm sóc người cao tuổi bị sốt

15:05 |
Người cao tuổi (NCT) do đặc điểm sinh lý có nhiều thay đổi nên mọi chức năng của cơ thể cũng thay đổi theo và đặc biệt là dễ mắc các bệnh hơn. Các bệnh của NCT cũng rất dễ liên quan với nhau nhất là khi họ sốt. 

Khi người cao tuổi bị sốt, nếu chúng ta không biết xử trí thì có nhiều biến chứng sẽ xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Nguyên nhân gây sốt ở người cao tuổi

 

Người cao tuổi bị sốt do mắc bệnh nhiễm trùng 

Có rất nhiều nguyên nhân gây sốt ở NCT nhưng hay gặp nhất là sốt do mắc bệnh nhiễm trùng. Bệnh nhiễm trùng ở NCT có thể là đường hô hấp như viêm họng, viêm mũi, xoang, viêm phế quản, viêm phổi, áp-xe phổi, lao phổi. 

Bệnh nhiễm trùng ở NCT cũng có thể gặp ở đường tiêu hóa như viêm ruột, viêm đường mật cấp hoặc bị viêm nhiễm ở đường tiết niệu hoặc bị các bệnh do virút gây ra như sốt xuất huyết, sốt phát ban, sốt rét... 

Ngoài ra, người ta thấy NCT cũng có thể bị sốt không do bệnh nhiễm trùng như một số bệnh ung thư, bệnh về máu, gãy xương, bệnh nội tiết... 

Sốt có thể là sốt cấp tính hoặc sốt kéo dài. Sốt cũng có thể là sốt rất cao nhưng cũng có thể thân nhiệt chỉ vượt quá chỉ số bình thường từ 0,5 - 1 - 20C. Sốt có thể được phân chia một cách tương đối, như: sốt nhẹ là thân nhiệt từ trên 37 - dưới 38oC; sốt trung bình: thân nhiệt từ 38 - dưới 39oC và sốt cao là khi thân nhiệt trên 39oC. 

Biến chứng khi người cao tuổi bị sốt 

Khi NCT bị sốt nếu không xử trí kịp thời thì rất có thể xảy ra một số biến chứng, thậm chí biến chứng nguy hiểm đến tính mạng, nhất là sốt ở một số bệnh nhân đang mắc bệnh mạn tính như: bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận, bệnh thuộc hệ hô hấp (viêm phổi, hen suyễn, lao phổi, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính...). 

Biến chứng hay gặp nhất là ở hệ thần kinh, nhẹ thì nhức đầu, chóng mặt, nặng hơn lơ mơ, mê sảng, thậm chí gây co giật. Đối với hệ tim mạch thì có thể gây mạch nhanh, rối loạn nhịp tim, huyết áp tăng (nếu người bệnh có tiền sử tăng huyết áp thì rất nguy hiểm). 

Sốt ở NCT cũng có thể gây buồn nôn, nôn, đau bụng, chán ăn hoặc ăn vào không tiêu, ậm ạch rất khó chịu. Khi sốt có thể làm cho NCT có thể bị rối loạn nhịp thở như khó thở, thở nông và khi sốt cũng rất dễ gây nên tiểu tiện ít do nước được thoát ra theo đường bài tiết mồ hôi và như vậy sẽ ảnh hưởng đến chức năng bài tiết của thận. 



Điều trị sốt ở người cao tuổi 

Thân nhiệt của người bình thường là 37oC với điều kiện là cặp nhiệt kế ở miệng hoặc ở hậu môn. Nếu cặp nhiệt độ ở nách thì phải cộng thêm 0,50 nữa mới đúng thân nhiệt lúc cặp nhiệt kế. Sốt có nghĩa là thân nhiệt phải vượt quá 37oC. 

Tuy vậy, cũng có thể gặp một số trường hợp ở NCT tuy mắc bệnh nhiễm trùng nặng nhưng khi cặp nhiệt độ thì không thấy thân nhiệt tăng (không thấy sốt) thậm chí thân nhiệt còn thấp hơn 37oC. Lý do có thể ở những trường hợp như vậy do sức đề kháng và phản xạ của cơ thể quá yếu, đặc biệt ở người tuổi cao, sức yếu, nằm lâu ngày, thiếu vận động hoặc ăn, uống kém, không hấp thu được. Trong những trường hợp như thế cần được khám toàn diện mới đánh giá đúng bệnh. 

Để làm giảm thân nhiệt khi NCT cao tuổi bị sốt thì động tác đầu tiên nên làm là lau mát. Đây là việc làm tuy rất đơn giản, dễ thực hiện, không tốn kém nhưng lại rất hiệu quả. Người ta thường dùng một chiếc khăn lau mặt nhúng vào một chậu nước mát hoặc làm ướt khăn mặt từ vòi nước mát đắp lên những vùng có mạch máu lớn chạy qua thì sẽ làm cho thân nhiệt giảm xuống nhanh hơn như vùng trán, hai bên thái dương, hai hố nách, hai bẹn. 

Người bệnh nên mặc quần áo mỏng, không đắp chăn nằm ở nơi thoáng mát. Song song với lau mát, cần được uống nhiều nước, ngoài nước ép của quả tươi như chanh, cam, xoài, dưa hấu… uống thêm nước pha từ dung dịch ORS. 

Cứ một gói ORS 27,5g pha vào 1 lít nước đã đun sôi để nguội và cho uống theo nhu cầu. Nếu không có điều kiện mua ORS thì có thể lấy 2 thìa gạt (loại thìa dùng trong uống cà phê) muối ăn và 8 thìa gạt đường ăn pha vào 1 lít nước đun sôi để nguội hoặc nước gạo rang để uống. 

Tuyệt đối không được truyền dịch tại gia đình hoặc ở phòng khám không đủ điều kiện chăm sóc và cấp cứu. Bởi vì nhiều y tá điều dưỡng có thể thực hiện được kỹ thuật truyền dịch một cách thành thạo nhưng việc xử trí khi truyền dịch bị sốc (phản ứng) thì không phải ai cũng giải quyết được.NCT bị sốt mà đang bị tăng huyết áp thì cũng không truyền dịch. 

Khi thực hiện các biện pháp như vừa nêu ở trên mà thân nhiệt vẫn không thuyên giảm (dưới 38oC) thì có thể dùng thuốc hạ nhiệt paracetamol, liều trung bình cho người lớn là 0,5g mỗi một lần và sau từ 4 - 6 giờ có thể dùng lại nếu vẫn còn sốt trên 38oC. 

Cần lưu ý là trong viên paracetamol dạng viên sủi có thêm thành phần muối bicacbonat natri nên những NCT có huyết áp tăng cần lưu ý không nên dùng. Một điều nữa cũng cần được lưu ý là loại thuốc paracetamol nếu dùng dài ngày sẽ không tốt vì chúng có nhiều tác dụng phụ nhất là ảnh hưởng đến chức năng của gan và vì vậy dễ gây ngộ độc. 

Các biện pháp trên đã được áp dụng mà NCT không hạ thân nhiệt về chỉ số bình thường thì nên đưa NCT đến cơ sở y tế để được chẩn đoán xác định nguyên nhân của sốt và sẽ được điều trị và mọi trường hợp khi người cao tuổi bị sốt không được chủ quan. 


PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Click đọc ngay…

Giải pháp cho giấc ngủ tốt ở người cao tuổi

23:02 |
Để bảo đảm sức khỏe, sự minh mẫn, con người cần duy trì giấc ngủ để tái tạo năng lượng. Ở người trẻ tuổi, số giờ ngủ thường nhiều hơn ở người cao tuổi từ 2-3 giờ mỗi ngày. Tuy nhiên, chất lượng giấc ngủ mới là vấn đề cần được quan tâm để người cao tuổi có cuộc sống thoải mái, khỏe mạnh, có ích. 

Nguyên nhân gây mất ngủ ở người cao tuổi

Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ ở người cao tuổi, bao gồm: giảm hoạt động thể lực, ít tiếp xúc với ánh sáng, giảm ngưỡng bị đánh thức (dễ bị thức giấc hơn), thay đổi nhịp sinh học, giảm khả năng hồi phục các chức năng khi cơ thể bị lão hóa, các bệnh lý (sa sút trí tuệ, tim mạch, viêm nhiễm đường hô hấp, đau xương khớp, trầm cảm...). Ngoài ra, theo sự phát triển tâm sinh lý ở mỗi người, chu kỳ thức ngủ sẽ thay đổi dần theo tuổi tác.


Ở người cao tuổi, thời gian ngủ sẽ ít dần, có khuynh hướng ngủ muộn hơn và thức dậy sớm hơn. Bên cạnh đó, người cao tuổi không ngủ được còn do tâm lý thường nghĩ về quá khứ, hay lo lắng và dễ xúc động... 

Người cao tuổi cần làm gì để có giấc ngủ tốt? 

Cách điều trị mất ngủ tốt nhất là áp dụng các biện pháp không dùng thuốc, nhất là với trường hợp mất ngủ do rối loạn tâm lý kéo dài nhằm xóa bỏ hoặc làm giảm các yếu tố gây mất ngủ. Cụ thể là: 

Về chế độ ăn uống 
  
Thức ăn và nước uống có những loại làm cho giấc ngủ ngon hơn nhưng cũng có những loại lại gây trằn trọc, khó ngủ. Phải bảo đảm đủ 3 nhóm chất chủ yếu: đạm (thịt, cá...), đường (gạo, bánh mì...) và mỡ (mỡ động vật và dầu thực vật, nhưng chủ yếu là dầu thực vật).

Người cao tuổi nên ăn những thức ăn dễ tiêu và có nhiều vitamin B1, loại giàu chất khoáng như rau (rau muống, mồng tơi), quả (cam, quýt, đu đủ chín)...; thịt lợn, thịt gà, cá tươi, đậu phụ, sữa đậu nành. 

Đặc biệt, người cao tuổi không nên uống rượu, bia. Vì rượu có khả năng làm tổn hại tế bào gan. Người cao tuổi nên tránh những loại nước uống gây mất ngủ như cà phê và những nước uống có chất cafein như Pepsi, Coca Cola. Không hút thuốc lá và tránh xa khói thuốc lá,…

Luyện tập 

Hình thức luyện tập thể thao tương đối phù hợp với người cao tuổi là đi bộ, tập dưỡng sinh một cách đều đặn. Nơi tập cần bảo đảm vệ sinh, thoáng mát, tốt nhất có cả nơi ngồi nghỉ, tránh mưa, gió đột ngột. 

Ngoài ra, cần tạo một môi trường thư giãn và yên tĩnh khi đi ngủ, bao gồm các điều kiện tối ưu về ánh sáng, tiếng ồn, nhiệt độ... tạo thói quen về trình tự giờ giấc, các bước đi vào giấc ngủ. Khi đi ngủ không nên đọc sách hoặc xem ti-vi, nhìn đồng hồ, tránh căng thẳng hoặc xúc cảm trước khi đi ngủ... 


BS. Thu Lan
Click đọc ngay…

Phòng bệnh thoái hóa khớp cho người cao tuổi

09:29 |
Thoái hóa khớp (THK) là một trong những bệnh khớp mạn tính rất thường gặp ở người cao tuổi (NCT) với hiện tượng hư hỏng phần sụn đệm giữa hai đầu xương, kèm theo là phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhày giúp bôi trơn trong khớp. 

Sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết... Bệnh làm giảm chức năng vận động, gây đau đớn, khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. 

Những ai hay bị thoái hóa khớp? 



THK xảy ra do sự mất cân bằng giữa hai quá trình tái tạo sụn và thoái hóa sụn. Tuổi càng cao thì quá trình tái tạo sụn càng giảm, đồng thời tốc độ thoái hóa sụn tăng lên. 

Sự mất cân bằng giữa hai quá trình này dẫn tới hiện tượng các tế bào sụn già không được thay thế, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharid giảm rối loạn. Từ đó, chất lượng sụn giảm dần, tính chất đàn hồi và khả năng chịu lực giảm. 

THK cũng thường gặp ở người bị các dị dạng bẩm sinh, biến dạng thứ phát sau chấn thương, viêm, u...; người thừa cân béo phì; những người nghề nghiệp phải khuân vác, xách vật nặng thường xuyên. Ngoài ra, những người có cơ địa già sớm, mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương, bệnh gut cũng là nguyên nhân gây THK. 

Khi bị thoái hóa khớp, người bệnh có những biểu hiện gì? 

Đau là biểu hiện đầu tiên và thường gặp nhất. Người bệnh đau ở vị trí khớp bị thoái hóa, đau âm ỉ, ít khi đau lan (trừ trường hợp thoái hóa cột sống gây chèn ép rễ và dây thần kinh); đau tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Một số ít trường hợp có sưng, nóng, đỏ tại vị trí khớp bị thoái hóa. Người bệnh bị hạn chế vận động chủ động và thụ động tại các khớp bị thoái hóa, mức độ hạn chế không nhiều và có thể chỉ hạn chế ở một số động tác. 

Các khớp bị biến dạng nhưng không nhiều, nguyên nhân do mọc các gai xương, lệch trục khớp hoặc thoát vị màng hoạt dịch. Ngoài ra, người bệnh có thể bị teo cơ, có tiếng lạo xạo khi vận động, tràn dịch khớp (thường là khớp gối). 

Chụp Xquang không phải là yếu tố quyết định để chẩn đoán thoái hóa khớp vì có thể có những trường hợp biểu hiện trên phim Xquang nhưng không có triệu chứng lâm sàng hoặc phải một thời gian rất lâu sau đó mới biểu hiện các triệu chứng lâm sàng. Biểu hiện thường là hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, chồi xương, gai xương. 

Ngoài ra, một số phương pháp chụp đặc biệt có thể phát hiện sớm các tổn thương của sụn khớp, đĩa đệm như: chụp cắt lớp, chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner), chụp Xquang có bơm thuốc cản quang. Cần phân biệt thoái hóa khớp với viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống. 

Điều trị và dự phòng thoái hóa khớp như thế nào? 

Nguyên tắc cơ bản trong phòng và điều trị thoái hóa khớp là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, đặc biệt là ngăn sự thoái hóa của sụn khớp; giảm đau và duy trì khả năng vận động, hạn chế đến mức thấp nhất sự tàn phế cho người bệnh, trong đó, điều trị nội khoa là chủ yếu bằng các thuốc giảm đau chống viêm, thuốc kích thích tế bào sụn, tăng chất nhầy của khớp. 

Ngoài dùng thuốc, vật lý trị liệu (siêu âm, chiếu tia hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, đắp bùn, luyện tập chỉnh sửa tư thế...) và châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt đem lại hiệu quả tốt với người bệnh. 



Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm kéo dài hoặc không đúng cách sẽ gây ra nhiều tác dụng không mong muốn đối với người bệnh, đặc biệt hay gặp là gây viêm loét dạ dày - tá tràng thứ phát nên người bệnh không được tự ý dùng thuốc mà phải có sự thăm khám và chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. 

Điều trị ngoại khoa: chỉ tiến hành khi điều trị nội khoa không có kết quả, tổn thương khớp quá nặng, có các biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn đại tiểu tiện, người bệnh trên 60 tuổi. 

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng và điều trị bệnh thoái hóa khớp có hiệu quả, cần hướng dẫn người cao tuổi thực hiện các chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Tránh cho khớp bị quá tải bởi trọng lượng và vận động: duy trì cân nặng hợp lý, tránh các tư thế: đứng lâu; ngồi vẹo lệch, không cân đối. 

Tập luyện thường xuyên và vừa sức giúp cơ bắp khỏe mạnh, không nên tập vận động quá mạnh hoặc quá lâu. Với người cao tuổi, tốt nhất nên tập thể dục nhẹ nhàng, dưỡng sinh, bơi lội, đạp xe, đi bộ nhẹ nhàng trong khoảng thời gian 20 - 30 phút/ngày. 

Thực phẩm ăn uống nên đa dạng, giàu protein, vitamin, khoáng chất, đặc biệt là canxi (trứng, sữa, tôm, cua, lươn và các loại nhuyễn thể, các loại quả chín và rau có màu xanh đậm hoặc màu vàng...). 

Ngoài ra, có thể dùng các loại thuốc có chứa thành phần glucosamin bởi vì glucosamin tham gia quá trình chuyển hóa tổng hợp nên thành phần của sụn khớp.


ThS.BS. Nguyễn Hải Yến 
(Trung tâm Y tế quận Cầu Giấy)
Click đọc ngay…

Phòng đau nhức xương khớp người cao tuổi mùa lạnh

10:33 |
Thời tiết chuyển mùa, đặc biệt khí hậu lạnh là điều kiện thuận lợi cho các bệnh xương khớp xuất hiện ở người cao tuổi (NCT) làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt và sức khỏe của họ. 

Viêm khớp là hiện tượng đau nhức khủng khiếp ở các khớp, sưng nề, bầm, đi lại, cử động khó khăn hoặc mỗi khi đụng vào rất đau. Các triệu chứng này thường xuất hiện ngày càng tăng thêm và có thể đưa đến thoái hóa khớp, do đó, mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là mưa, lạnh thì NCT có cảm giác khó chịu ở các khớp xương nhiều hơn. 



Nguyên nhân gây đau nhức khớp mùa lạnh 

Nguyên nhân đau nhức khớp vào mùa lạnh là do không khí lạnh thâm nhập vào cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông, làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít gây nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, nuôi dưỡng các màng hoạt dịch và sụn khớp, chúng bị kích thích gây nên đau nhức khớp. 

Hơn nữa, một số NCT thường ngày đã bị các bệnh về khớp mãn tính (thoái hóa cột sống, thoái hóa sụn khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm dây chằng, lao cột sống) hoặc đã, đang bị viêm khớp gây đau nhức, nay gặp thời tiết lạnh càng đau nhiều hơn. Ngoài ra, ở những NCT bị bệnh gút mãn tính, loãng xương cũng gây đau nhức xương khớp, nếu bị lạnh bệnh lại càng gia tăng. 

Đau nhức xương khớp mùa lạnh có thể gặp ở NCT béo phì, thừa cân do các khớp phải chịu trọng lực của cơ thể đè lên các xương khớp, thêm vào đó còn có trọng lực của áo quần mùa đông vừa nặng vừa gây khó khăn trong vận động càng làm cho xương khớp bị đau nhức. 

Với NCT khi vào mùa lạnh, bị đau nhức xương khớp gây cho họ cảm giác khó chịu, đau nhức, tê buốt ở các khớp xương khớp, dai dẳng ám ảnh, “hành hạ” nhất là về đêm. Đặc biệt, ở những NCT có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu quần áo ấm, thiếu chăn, nhà ở không kín gió thì bệnh đau nhức xương khớp càng hành hạ nhiều hơn, khổ cực hơn. 

Do cảm giác chân, tay tê buốt, đau nhức lưng, đầu gối, bàn tay, ngón tay, khiến cho NCT gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và luôn cảm thấy buồn phiền. Một số trường hợp đau dây thần kinh liên sườn do thoái hóa cột sống lưng làm cho người bệnh nhầm tưởng là mắc bệnh về tim mạch hoặc bệnh phổi nên càng hoang mang lo lắng. 

Điều đáng nói là càng bị đau, nhức xương, khớp thì người bệnh càng sợ cử động dẫn đến các khớp trở nên tê cứng, khó cử động và càng ngày bệnh càng nặng thêm gây cứng khớp. Thêm vào đó nếu không phát hiện sớm để điều trị và dự phòng thì hậu quả khó lường trước. 

Nguyên tắc phòng và chữa trị 



Khi bị đau nhức khớp, nhất là vào mùa lạnh, người cao tuổi (NCT) nên đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp để xác định nguyên nhân (tổn thương thực thể, thoái hóa khớp hay chỉ là do viêm khớp phản ứng). 

Trên cơ sở đó bác sĩ sẽ có hướng điều trị tốt hơn. Người bệnh hoặc người nhà không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc để điều trị, đặc biệt là thuốc loại corticoid (prednisonlon…) hoặc không steroid (voltagen...). Bởi vì, chúng có nhiều tác dụng phụ rất nguy hiểm nếu chưa có ý kiến của bác sĩ khám bệnh chỉ định, đặc biệt là những NCT có thêm các bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về tiêu hóa (viêm loét dạ dày - tá tràng…). 

Người bệnh có thể tự làm là, mỗi khi có dấu hiệu đau, nhức khớp, tê, mỏi xảy ra, nhất là khi ngủ dậy ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đó bằng cách cạo gió, thoa bóp dầu (dầu gió, dầu cao sao vàng…). Mục đích của việc tự làm này là làm nóng vùng xunh quanh đó để cho các mạch máu giãn ra, vận chuyển máu được dễ dàng đến nuôi các khớp, do đó sẽ giảm đau.

Những trường hợp đã bị viêm khớp, thoái hóa khớp mãn tính cần có các loại thuốc giảm đau dự phòng để mỗi khi gió lạnh, đông về đau nhức khớp có thể dùng tạm khi chưa đến phòng khám ngay được. Cần lưu ý là các loại thuốc giảm đau nhức khớp phải được bác sĩ chỉ định. 

Về phòng bệnh, dù có bệnh lý khớp từ trước hay không, trong mùa lạnh, NCT cũng cần giữ ấm cơ thể mình, trong đó đặc biệt lưu ý các khớp. Để làm tốt điều đó cần mặc đủ ấm, cổ quàng khăn ấm, tay đi găng, chân đi tất. Khi ra khỏi nhà cần mặc ấm hơn để không cảm lạnh. 

Về chế độ dinh dưỡng, lý tưởng nhất là có chế độ hợp lý để duy trì cân nặng ở mức độ vừa phải, tránh béo phì, thừa cân và đầy đủ các vi chất cần thiết, cần tăng cường các loại thực phẩm giàu canxi. Hàng ngày nên vận động nhẹ nhàng các khớp gối, cổ chân, bàn tay, ngón tay, nhất là lúc sáng sớm vừa ngủ dậy, theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa khớp. 



TS.BS. BÙI MAI HƯƠNG
Click đọc ngay…

Thận trọng bệnh thường gặp ở người cao tuổi

19:32 |
Khi bước sang tuổi ngoài 50, nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm. Sự suy giảm chức năng ở mỗi người không giống nhau. Nhưng có một điều giống nhau ở người cao tuổi là tuổi càng cao thì càng dễ mắc bệnh tật. 

Bởi vì trong vô số các chức năng sinh lý của người cao tuổi bị suy giảm thì chức năng đề kháng của cơ thể cũng bị suy giảm, các loại bệnh tật cũng theo đó mà phát sinh, lúc đầu bệnh còn nhẹ, thoáng qua, dần dần bệnh trở thành mạn tính, kéo dài, khó chữa. 



Người cao tuổi (NCT) dễ mắc bệnh gì? 

Bệnh về tim mạch: trong số các bệnh về tim mạch ở NCT thì bệnh xơ vữa động mạch, thiểu năng mạch vành, tăng huyết áp chiếm một vị trí đáng kể. Trong một số trường hợp, các loại bệnh này thường thấy ở những người nghiện bia, rượu chiếm tỷ lệ cao hơn những người không nghiện bia, rượu. 

Bệnh về hệ hô hấp: Bệnh viêm họng, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, âm phế mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là những bệnh gặp khá nhiều ở NCT, nhất là ở những người có tiền sử hoặc đang hút thuốc lá, thuốc lào. Đặc điểm bệnh về đường hô hấp lại thường hay xảy ra vào mùa lạnh, thay đổi thời tiết, lúc giữa đêm gần sáng do đó rất dễ làm cho NCT mất ngủ kéo dài. 

Bệnh về đường tiêu hóa: người cao tuổi rất dễ mắc bệnh rối loạn tiêu hóa như viêm loét miệng, ăn không tiêu, đầy hơi, trướng bụng, táo bón hoặc đi lỏng. NCT cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, trào ngược thực quản hoặc viêm đại tràng mạn tính. 

Các loại bệnh dạng này thường làm cho người cao tuổi rất khó chịu, gây lo lắng, ăn không ngon, ngủ không ngon giấc hoặc kém ngủ, mất ngủ kéo dài. Mất ngủ lại làm cho nhiều bệnh tật phát sinh. 

Bệnh về hệ tiết niệu - sinh dục: NCT cũng rất dễ mắc các bệnh về hệ tiết niệu - sinh dục, đặc biệt là u xơ tiền liệt tuyến hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Những bệnh về sinh dục - tiết niệu thường có hiện tượng đi tiểu nhiều lần, đái dắt, đái són nhất là vào ban đêm, gây nhiều phiền toái cho NCT. 

Bệnh về hệ xương khớp: Đau xương, khớp, thoái hóa khớp nhất là đốt sống thắt lưng, khớp gối làm cho người bệnh lo lắng, buồn chán nhất là khi thay đổi thời tiết. 

Thoái hóa khớp gối gây biến chứng cứng khớp, gây đau khớp gối và vận động khó khăn mỗi buổi sáng lúc bắt đầu ngủ dậy. Triệu chứng đau nhức các khớp xương là loại tương đối phổ biến ở NCT đặc biệt là về đêm gây khó chịu ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất ngủ hoặc ngủ không sâu, không ngon giấc. 

Về hệ thần kinh trung ương: Hầu hết NCT do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như Parkinson hoặc bệnh Alzheimer. 

- Rối loạn các chỉ số về mỡ máu (cholesterol, triglycerid), rối loạn về chức năng gan (SGOT, SGPT), đái tháo đường cũng là một số biểu hiện dễ bắt gặp ở người cao tuổi. 

Đi kèm các rối loạn một số chỉ số này thường gặp ở người có tăng huyết áp, viêm gan, nghiện rượu... Tuy nhiên, bệnh đái tháo đường không chỉ gặp ở NCT mà còn gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thường ít được phát hiện, khi phát hiện thì đã muộn, đôi khi đã có biến chứng. 

- Ngoài ra, người ta còn thấy NCT thường thiếu một lượng nước cần thiết do thói quen ăn, uống ít nước hoặc ăn nhiều chất đạm như cá, trứng, thịt gà, thịt lợn, thịt bò, thịt chó... làm xuất hiện một số bệnh về đường tiêu hóa hoặc làm da khô, nứt nẻ khó chịu... 



Phòng bệnh cho NCT bằng cách nào? 

Nên đi khám bệnh định kỳ, nhất là mỗi khi nghi bản thân mình có bệnh. Khám bệnh, thầy thuốc sẽ phát hiện ra bệnh và sẽ có những lời khuyên, tư vấn hữu ích và có biện pháp điều trị thích hợp. Nên tập thể dục đều đặn như tập hít thở trước và sau khi ngủ dậy, tập vận động tay chân, xoa, bóp các cơ bắp. 

Có thể tập nhẹ nhàng trong nhà hoặc có điều kiện thuận lợi như gần công viên, câu lạc bộ nên đến những nơi này để vừa tập vừa có cơ hội gặp gỡ bạn bè trao đổi, tâm sự phần để giải tỏa một số bức xúc và có thể học tập kinh nghiệm lẫn nhau trong việc gìn giữ, bảo vệ sức khỏe. 

Đối với NCT, uống đủ lượng nước cần thiết rất quan trọng vì vậy nên uống nước đều đặn đầy đủ vào buổi sáng và chiều. Buổi tối trước khi đi ngủ không nên uống nhiều nước để không phải đái đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ. 

Ngoài bệnh tật, niềm vui tuổi già với NCT là liều thuốc tinh thần, do vậy (con, cháu) nên gần gũi, động viên, chăm sóc ông bà, bố mẹ những lúc ốm đau cũng góp phần đáng kể làm cho NCT ít bệnh tật và cảm thấy sống vẫn còn có ích. 



PGS.TS. Bùi Khắc Hậu
Click đọc ngay…