Viêm lộ tuyến cổ tử cung có gây ung thư tử cung

15:34 |
Nhiều chị em phụ nữ sau mỗi chu kỳ kinh nguyệt ra nhiều khí hư đi khám các bác sĩ kết luận bị viêm lộ tuyến cổ tử cung. Tình trạng lộ tuyến dễ tái phát khiến nhiều người lo lắng liệu có dẫn đến ung thư không? Sau đây là câu giải đáp cho sự thắc mắc này?

Lộ tuyến là một tổn thương lành tính ở cổ tử cung, hay gặp ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, do các tế bào tuyến trong ống cổ tử cung phát triển lan ra phía ngoài.


Nguyên nhân gây ra viêm lộ tuyến cổ tử cung 

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng viêm lộ tuyến tử cung trong đó hay gặp do các nguyên nhân như: 

Những người đã sinh đẻ là đối tượng dễ mắc phải, do cổ tử cung mở rộng sau quá trình vượt cạn. Những người có tổn thương sau một số thủ thuật nạo hút thai cũng có thể khiến tế bào bên trong mọc lan ra ngoài gây lộ tuyến cổ tử cung. 

Những người chưa sinh đẻ vẫn có khả năng lộ tuyến cổ tử cung do các biến động về nội tiết sinh dục nữ hoặc đôi khi không có lý do. Ngoài ra, ở một số phụ nữ, thay đổi PH môi trường âm đạo, quan hệ tình dục mạnh bạo... cũng là một nguyên nhân gây lộ tuyến. 

Khi mắc biểu hiện thường thấy là ra nhiều khí hư, nếu bị nhiễm khuẩn thì khí hư sẽ có mủ và hôi. Lộ tuyến có thể làm giảm khả năng thụ thai ở người có bệnh, nhất là khi kèm theo viêm. Vì thế, phụ nữ hiếm muộn nếu bị lộ tuyến thì việc đầu tiên cần làm là điều trị dứt điểm. 

Lộ tuyến cổ tử cung - triệu chứng gợi ý để phát hiện ung thư cổ tử cung 

Một số người bị lộ tuyến lâu ngày có thể xuất hiện tổn thương nghi ngờ, cần soi cổ tử cung và xét nghiệm phiến đồ âm đạo để phát hiện tế bào bất thường. Nếu có hình ảnh bất thường soi cổ tử cung cũng là một triệu chứng gợi ý để phát hiện ung thư cổ tử cung. Tuy vậy, có tổn thương nghi ngờ chưa chắc đã là ung thư. 

Nếu chỉ lộ tuyến hoặc đã điều trị hết viêm thì có thể diệt liên bào tuyến bằng phương pháp đốt điện, đốt nhiệt hoặc áp lạnh nhưng không áp dụng hết cho tất cả các trường hợp lộ tuyến. 


Nhiều người thường hay sử dụng thuốc hoặc thảo dược tại nhà mà không hỏi ý kiến bác sĩ. Trong khi đó, việc đặt thuốc không đúng càng làm rối loạn môi trường âm đạo, có thể gây ra bệnh do mất cân bằng vi khuẩn có lợi, tổn thương các mô bên trong.Vì vậy, viêm lộ tuyến khi nào cần phải điều trị, việc điều trị như thế nào, chỉ định đốt hay đặt thuốc phải tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. 

Đặc biệt trong thủ thuật đốt cần phải lưu ý tuân thủ việc tái khám, kiêng quan hệ tình dục theo sự hướng dẫn của bác sĩ cho từng trường hợp. Sau khi điều trị, cần rửa vệ sinh bên ngoài, không ngâm, không thụt rửa bên trong âm đạo. Cần thực hiện tái khám theo đúng chỉ định của bác sĩ trực tiếp điều trị. Kiêng quan hệ tình dục trong thời gian điều trị cho đến khi lành hẳn. 

Thực hiện chế độ ăn uống đủ chất dinh dưỡng, không kiêng khem. Để tránh tái phát, cần vệ sinh phụ khoa đúng cách, chú ý giữ vệ sinh vùng kín vào những ngày có kinh nguyệt và sau khi quan hệ tình dục. 


Thạc sĩ, Bác sĩ Dung Hạnh
Click đọc ngay…

Những loại u nang buồng trứng thường gặp

17:49 |
U nang buồng trứng là loại khối u thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 3,6 % các bệnh phụ khoa. U nang buồng trứng thường không nguy hiểm nhưng gây tỷ lệ vô sinh rất cao ở nữ giới.

Bệnh phát triển âm thầm, lặng lẽ, có thời gian im lặng kéo dài nên không được nhiều người chú ý, nhưng khi chuyển sang ác tính thì tiến triển rất nhanh... U nang buồng trứng được chia làm hai loại: u nang cơ năng và u nang thực thể. 

U nang cơ năng 


U nang cơ năng của buồng trứng là những khối u có nguồn gốc từ các nang noãn xuất hiện do các rối loạn sinh lý trong quá trình phát triển chứ không phải do những tổn thương thực thể của buồng trứng. Như vậy, những khối u này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi biến mất. 

U nang cơ năng bao gồm ba loại: nang bọc noãn, nang hoàng thể và nang hoàng tuyến. 

- Nang bọc noãn: là nang noãn đã phát triển và trưởng thành (chín) nhưng không phóng noãn (rụng trứng) được, các tế bào hạt tiếp tục phát triển và chế tiết làm cho nang noãn to lên, lượng dịch được tích luỹ trong nang ngày càng nhiều tạo thành nang. 

- Nang hoàng thể: bình thường sau khi phóng noãn, các tế bào hạt của nang noãn chế tiết progesteron tạo thành hoàng thể phát triển đến cực đại vào khoảng ngày thứ 21 đến 23 của vòng kinh sẽ thoái triển dần rồi teo đi để trở thành một đám thoái hoá màu vàng nên được gọi là thể vàng. 

Nếu vì một lý do gì đó mà hoàng thể không những không teo đi mà ngược lại còn phát triển mạnh thành một nang mỏng chứa đầy dịch ở bên trong. 

Cả nang hoàng thể và nang bọc noãn thường tự tiêu sau 4 đến 8 tuần mặc dù không được điều trị gì. Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị để rút ngắn thời gian thoái triển cũng như sự tái phát của hai loại nang trên. 

- Nang hoàng tuyến: là các nang bọc noãn bị kích thích quá mức nên không phóng noãn mà bị hoàng thể hoá. Là loại nang cơ năng ít gặp nhất, thường gặp trong chửa trứng. 

Nguyên nhân chính tạo nên nang hoàng tuyến là do buồng trứng bị kích thích quá mức do nồng độ hCG quá cao trong máu như chửa nhiều thai, chửa trứng và bệnh u nguyên bào nuôi hoặc dùng hCG liều cao để gây phóng noãn trong điều trị vô sinh. 

Nang hoàng tuyến thường gặp cả hai bên buồng trứng, kích thước lớn từ 15 -20 cm, do nhiều nang nhỏ hợp thành, bên trong chứa dịch màu vàng nhạt, đôi khi lẫn máu giống như dịch của nang hoàng thể. Thông thường sau khi nạo hết trứng, hoặc điều trị khỏi bệnh u nguyên bào nuôi thì nang cũng tiêu đi. Trong điều trị bệnh u nguyên bào nuôi, nếu còn nang hoàng tuyến nghĩa là còn tế bào nuôi đang phát triển. 

Các biến chứng của các nang cơ năng: 

-Vỡ nang: do vỏ mỏng nên khi thăm khám hoặc có áp lực đè mạnh lên bụng sẽ gây vỡ nang. Nếu vỏ nang có mạch máu bị tổn thương sẽ gây chảy máu, bệnh cảnh giống như chửa ngoài tử cung (CNTC) vỡ và phải xử trí bằng phẫu thuật. 

- Chảy máu trong nang là một biến chứng thường gặp và làm cho bệnh nhân đau bụng mà mức độ đau phụ thuộc vào tình trạng chảy máu nhiều hay ít. 

- Xoắn nang: khi cuống nang dài, nang di chuyển và bị xoắn, gây hoại tử. 

- Trong những trường hợp nang bọc noãn và nang hoàng thể có kích thước bé 3-5 cm, dễ chẩn đoán nhầm với CNTC chưa vỡ. 

Điều trị u nang cơ năng 

Trong những nang bọc noãn và nang hoàng thể cần theo dõi 2-3 tháng, nếu sau thời gian theo dõi mà khối u vẫn tồn tại thì nên mổ. Trong thời gian theo dõi, có thể dùng thuốc tránh thai để buồng trứng nghỉ ngơi, không chịu sự kích thích của tuyến yên, nang sẽ tự thoái triển. 

Nang hoàng tuyến thì phải điều trị bệnh chính là chửa trứng hoặc u nguyên bào nuôi. Không nên chọc hút nang vì dịch chảy ra ổ bụng sẽ gây dính. 

Siêu âm là cách chính xác phát hiện u nang buồng trứng

U nang thực thể buồng trứng 

U nang thực thể buồng trứng là những tổn thương giải phẫu từ nhu mô bình thường của buồng trứng trở thành những khối u thực thể, tiến triển âm thầm, kéo dài trong nhiều năm. U nang thực thể buồng trứng gồm ba loại là u nang nước, u nang nhầy và u nang bì. 

- U nang nước: là một túi chứa nước có cuống dài, vỏ mỏng, di động, mặt ngoài trơn nhẵn, bên trong chứa dịch trong, đôi khi có nhiều thuỳ. Vỏ nang thường trơn nhẵn và mỏng nên dễ vỡ. Mặt trong của vỏ nang thường nhẵn. 

Nếu nang có những nhú nhỏ thì đã bị ung thư hoá. Nếu số lượng nhú càng nhiều thì nguy cơ bị ung thư hoá càng cao. Đôi khi dịch trong nang chứa màu nâu hay màu sô cô la là do chảy máu trong nang. 

- U nang nhầy: là loại khối u có vỏ dầy hơn, màu trắng hoặc trắng ngà, có cấu trúc giống như da. Trong nang chứa chất dịch nhầy trong, có vách ngăn khối u thành nhiều thuỳ nhỏ. 

U nang nhầy rất thường gặp, kích thước thay đổi từ vài trăm gam nhưng cũng có khi nặng tới hàng chục ki lô gam, có thể dính vào các tạng xung quanh. Mức độ ung thư hoá rất thấp vì lớp vỏ giống tổ chức da là loại đã biệt hoá cao, nhưng nếu khối u bị vỡ hoặc các tế bào khối u xâm nhập vào ổ bụng thì sẽ tiết các chất nhầy gây bệnh dày dính phúc mạc. 

Có tác giả cho rằng hiện tượng nhầy hoá phúc mạc là hậu quả của một sự lan tràn của một u nang nhầy ở mức độ ung thư thấp (borderline). 

- U nang bì hay còn gọi là u quái: là loại u lành tính, chiếm khoảng 10% tổng các khối u buồng trứng, có thể gặp ở tuổi trẻ em, vị thành niên, sinh đẻ và người già. Vỏ khối u dầy, trơn láng, có lẫn những sợi cơ. Lớp vỏ bên trong có cấu trúc giống như da. 

Kích thước khối u thường không to, có đường kính dưới 10 cm, nhưng nặng nên dễ gây xoắn, thường là một bên, nhưng có 10 - 20 % là khối u gặp cả hai bên. Trong nang chứa các tổ chức của da đã biệt hoá cao như lông, tóc, móng, răng, chất bã đậu. Cũng có thể thấy các tổ chức của xương, sụn hoặc một chất trắng như não hay thần kinh. 

Nguồn gốc của khối u là từ lá thai ngoài. Nếu khối u chứa những tổ chức non xuất phát từ lá thai trong hoặc lá thai giữa (từ tế bào mầm), chưa biệt hoá (như tổ chức của bào thai: thần kinh, tuyến giáp) thì nguy cơ bị ung thư cao. 

Bệnh phát triển âm thầm, lặng lẽ gần như không có triệu chứng, chỉ được phát hiện một cách tình cờ như khám sức khoẻ định kì hay siêu âm bụng mà phát hiện ra. Cũng có khi biểu hiện một bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa ở bụng do xoắn cuống nang, hoặc do biến chứng của khối u như chèn ép gây đau hay bí trung, đại tiện. Thông thường người bệnh chỉ phát hiện được khi khối u đã to, có kích thước lớn nên tự sờ thấy được hoặc khám sức khoẻ hay siêu âm kiểm tra mà phát hiện được. 

Biến chứng 

+ Xoắn cuống nang: là một cấp cứu thường gặp trong phụ khoa. Bệnh hay xảy ra ở những trường hợp khối u có cuống dài, có đường kính khoảng 8 - 10 cm, vì khối u nhỏ, lại có cuống dài nên dễ di động, khối u nặng dễ bị xoắn.

Tất cả các loại đều có thể bị xoắn nhưng u nang bì gặp nhiều hơn. Nếu được chẩn đoán sớm, xử trí kịp thời tiên lượng tốt. Nếu chẩn đoán muộn, khối u vỡ hoặc hoại tử, bệnh nhân bị nhiễm độ nặng có nguy cơ dẫn đến tử vong. 

- Vỡ nang là biến chứng ít gặp và nếu xảy ra thì tỉ lệ cao ở u nang nước do có vỏ mỏng, là hậu quả của xoắn cuống nang mà không được cấp cứu kịp thời, hoặc khi thăm khám thô bạo, hoặc chấn thương ở vùng bụng, cũng có thể gặp sau giao hợp. 

- Có thể gây vô sinh, sẩy thai, đẻ non hay cản trở cuộc đẻ gây đẻ khó. 

- Có khả năng chuyển thành ung thư. Điều trị Phải mổ cắt bỏ u càng sớm càng tốt để tránh các biến chứng. 


Click đọc ngay…

Ung thư buồng trứng dễ nhầm với bệnh tiêu hóa

15:32 |
Ung thư buồng trứng rất khó phát hiện do các triệu chứng dễ nhầm với bệnh tiêu hóa. Trong thời gian ngắn, khối u có thể phát triển nhanh gây khó khăn lớn trong điều trị. 

Tiến sĩ Vũ Văn Vũ, Trưởng Khoa Nội 1, Bệnh viện Ung bướu TP HCM cho biết tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 1.200 phụ nữ được chẩn đoán ung thư buồng trứng. Đây là bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại ung thư phụ khoa. Tỷ lệ sống được 5 năm ở phụ nữ mắc bệnh chỉ khoảng 45%. 

Theo bác sĩ Vũ, triệu chứng bệnh dễ nhầm với các bệnh lý thông thường khác như là bệnh về tiêu hóa. Bệnh tiến triển nhanh và không có biện pháp tầm soát thật sự hữu hiệu. Đây chính là nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ung thư buồng trứng cao hơn các loại ung thư khác. 


Hiện nay, ¾ bệnh nhân phát hiện khi ung thư buồng trứng đã ở giai đoạn muộn. Bình thường, buồng trứng có kích thước khoảng 4 cm. Khi khối u xuất hiện ở giai đoạn sớm, bệnh nhân hầu như không có triệu chứng gì. Chỉ khi ung thư buồng trứng đã ở giai đoạn tiến xa, người bệnh mới có cảm giác khó chịu, nằng nặng, tức, ê ẩm vùng chậu hoặc khó chịu ở các cơ quan bị khối u chèn ép.

Nếu khối u đè vào bàng quang, bệnh nhân sẽ bị rối loạn đường tiểu, phải đi tiểu lắt nhắt nhiều lần. Nếu khối u chèn ép đường ruột sẽ gây táo bón… Ung thư buồng trứng di căn sang các tế bào lót ở bên trong khoang bụng, bệnh nhân sẽ gặp tình trạng cổ trướng do chất lỏng tích tụ gây sưng bụng.

Áp lực của chất lỏng khiến bệnh nhân đau bụng, chán ăn, nôn ói và khó thở... Bên cạnh đó, tắc ruột cũng thường xảy ra ở bệnh nhân giai đoạn muộn và là nguyên nhân chính tử vong do ung thư buồng trứng. Tắc ruột khiến bụng căng trướng, đau dữ dội và cũng bị buồn nôn, ói mửa, sụt cân…

"Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ trên 20-30 tuổi nên siêu âm định kỳ mỗi năm 1-2 lần nhưng trong khoảng vài tháng một khối u đã có thể phát triển tiến xa", bác sĩ Vũ phân tích. Điều đó rút ngắn thời gian sống của bệnh nhân và gây khó khăn rất lớn trong điều trị.

Đến nay, các phương pháp kinh điển điều trị ung thư buồng trứng là phẫu thuật hay hóa trị. Khi bệnh đã tiến xa thì hiệu quả điều trị rất hạn chế, phải kết hợp thêm các phương pháp khác nhằm giảm thiểu đau đớn và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Một trong những thành công của y học hiện đại trong việc điều trị ung thư ở giai đoạn muộn là liệu pháp điều trị nhắm trúng đích. Liệu pháp kháng sinh mạch là một trong những liệu pháp nhắm trúng đích hiệu quả tốt trong việc cải thiện chất lượng và thời gian sống cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung và buồng trứng giai đoạn muộn.

“Các khối u thường liên quan đến tình trạng tăng sinh các mạch máu. Tế bào ung thư từ lúc hình thành, phát triển, di căn đều cần có mạch máu nuôi. Do đó, phương pháp kháng lại quá trình tăng sinh mạch máu kết hợp với hóa trị có thể giúp bệnh ổn định trong thời gian nhất định”, bác sĩ Vũ chia sẻ.

Điều trị ung thư bằng liệu pháp kháng sinh mạch đã có mặt ở Việt Nam và áp dụng trong điều trị ung thư ruột, ung thư phổi. Mới đây, Bộ Y tế đã cho phép áp dụng phương pháp này trong điều trị ung thư buồng trứng và cổ tử cung, mang lại những hiệu quả bước đầu cho bệnh nhân.

Ung thư buồng trứng có thể gặp ở mọi đối tượng, phụ nữ có gia đình, chưa có gia đình và cả các bé gái. Tuy nhiên, nhóm phụ nữ mãn kinh, béo phì, chưa từng sinh đẻ, người có tiền sử gia đình mắc ung thư, người từng mắc các ung thư khác như ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng… có nguy cơ cao hơn.

Xem thêm bài viết liên quan:

Phát hiện ung thư buồng trứng thế nào?

Chảy máu âm đạo bất thường, cảnh báo bệnh gì?

 

Click đọc ngay…

Những dị dạng cơ quan sinh dục cần biết và đề phòng

20:14 |
Dị dạng sinh dục là những bất thường về cấu trúc của cơ quan sinh dục, do sự rối loạn quá trình biệt hóa các bộ phận sinh dục trong thời kỳ bào thai. 

Ở bạn gái, những dị dạng sinh dục thường liên quan đến một số cơ quan như âm đạo, tử cung, vòi trứng... Bất kỳ một dị dạng nào đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động tình dục cũng như chức năng sinh sản của bạn gái. 


Màng trinh không thủng: Bình thường màng trinh của bạn gái không kín bưng như tang trống mà thường có lỗ để máu kinh hàng tháng thoát ra. Tuy nhiên, có không ít trường hợp, màng trinh của bạn gái không có lỗ. Đây chính là một trong các nguyên nhân khiến bạn gái không thấy có kinh hàng tháng, dù vẫn có một số dấu hiệu của có kinh như đau tức bụng dưới, mỏi lưng, căng tức ngực... 

Do đó, nếu bạn gái đã 18 tuổi mà vẫn chưa thấy có kinh thì cần nghĩ đến hiện tượng này. Bác sĩ chỉ cần kiểm tra âm hộ là có thể phát hiện ra ngay và “tạo lỗ” ở màng trinh để hàng tháng kinh nguyệt có thể thoát ra ngoài. 

Dính môi sinh dục: Hai môi bé bị dính nhau ởmép, toàn bộ hoặc bán phần. Trường hợp này có thể che khuất âm đạo, khiến bạn gái khó giao hợp hoặc không thể giao hợp, cũng như ảnh hưởng đến việc sinh con. 

Dị dạng âm đạo: Âm đạo có cấu tạo hình ống,nối giữa âm hộ và tử cung. Trong một số trường hợp, âm đạo có thể có những dị dạng sau: 

Không có âm đạo: có những bạn gái khi sinh ra đã không có âm đạo, tuy nhiên, vẫn có thể có tử cung và buồng trứng như bình thường. Trường hợp này, máu kinh cũng không thể thoát ra ngoài được nên bị đọng lại trong tử cung và tràn lên sừng tử cung. Những trường hợp này khó điều trị, phải phẫu thuật tạo hình âm đạo. Sau khi được điều trị, bạn gái có thể có quan hệ tình dục và sinh con (nếu hoạt động của buồng trứng, tử cung hoàn toàn bình thường). Những trường hợp này không sinh con theo đường âm đạo mà cần được mổ đẻ. 

Teo âm đạo bẩm sinh: bạn gái vẫn có đủ 2 buồng trứng, tử cung, vòi trứng hoàn chỉnh, nhưng chỉ có phần trên âm đạo, còn phần dưới bị teo lại và bít kín. Do vậy, khi đến tuổi dậy thì, máu kinh cũng không thể thoát ra bên ngoài được, khiến bạn gái thường hay bị đau bụng, bụng dưới ngày càng to ra do bị ứ máu kinh lâu ngày. Với những trường hợp này, bác sĩ sẽ mở một đường âm đạo mới cho bạn gái. 

Âm đạo có vách ngăn: hay còn gọi là âm đạo kép. Trường hợp này có hai loại: 

- Vách ngăn ngang âm đạo:trong âm đạo có vách ngăn ngang âm đạo, có thể nằm ở 1/3 trên hay 1/3 giữa. Nếu vách ngăn không thủng thì sẽ có biểu hiện giống như trường hợp màng trinh không thủng. Nếu vách ngăn có thủng thì chỉ phát hiện được khi quan hệ tình dục dương vật - âm đạo. 

- Vách ngăn dọc âm đạo:thường có khoảng 20% trường hợp này đi kèm với dị dạng tử cung. Vách ngăn dọ câm đạo có thể hoàn toàn suốt dọc âm đạo hoặc chỉ một phần. Biểu hiện chủ yếu là đau khi giao hợp hoặc không giao hợp được. Ngoài ra, cả hai trường hợp này còn có thể ảnh hưởng đến việc sinh con sau này. Chính vì vậy, nếu nghi ngờ có vách ngăn âm đạo cần đi kiểm tra, bác sĩ có thể phẫu thuật để tạo hình dạng bình thường cho âm đạo. 

Dị dạng tử cung: 


Không có tử cung: trường hợp này bạn gái sẽ không có kinh nguyệt và không thể mang thai được. Hiện nay vẫn chưa thể thực hiện được kỹ thuật ghép tử cung nhân tạo. 

Tử cung đôi: có thể có hai tử cung trong tiểu khung. Chúng có thể chung nhau một âm đạo hoặc mỗi tử cung có một âm đạo riêng biệt. Nếu chức năng của một trong hai tử cung vẫn hoàn toàn bình thường thì bạn gái vẫn có thể mang thai. Tuy nhiên, hai tử cung này hiếm khi cùng phát triển hoàn thiện, do đó, cần khám và đánh giá chức năng của mỗi tử cung. Đa phần các trường hợp này được cắt bỏ một tử cung bị thoái hóa, chỉ giữ lại tử cung hoàn thiện. 

Tử cung có vách ngăn: loại dị dạng tử cung thường gặp nhất (chiếm khoảng 40%). Những trường hợp này có thể phát hiện nhờ siêu âm, chụp X-quang, soi ổ bụng. Hai tử cung có thể dính với nhau bằng một vách ngăn không hoàn toàn hoặc vách ngăn hoàn toàn. Những trường hợp này có thể ảnh hưởng đến việc mang thai, dễ gây sảy thai hoặc thai kém phát triển. Do đó, nếu phát hiện thấy tử cung có vách ngăn, bác sĩ thường phẫu thuật để tạo hình dáng bình thường cho tử cung. Tử cung một sừng: trường hợp này tử cung chỉ có một buồng trứng và một vòi trứng nên bạn gái có thể gặp khó khăn hơn khi mang thai. 

Tử cung nhi tính: đây là trường hợp tử cung kém phát triển, kích thước chỉ bằng tử cung của các bé gái. Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra tình trạng này như: cơ thể phát triển không hài hòa, thiếu sự trưởng thành của nhiều chức năng, bất thường về gen, do rối loạn nội tiết (như suy tuyến giáp, suy thùy trước tuyến yên)... Những bạn gái có tử cung nhi tính thường kèm theo không có buồng trứng hay không có âm đạo do đó không mang thai được. Còn những người có buồng trứng hoạt động bình thường thì vẫn có thể có con nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. 

Dị dạng buồng trứng: Hai buồng trứng của bạn gái có chức năng nuôi dưỡng các tế bào trứng (nang trứng), giúp các nang này phát triển và phóng noãn khi trưởng thành để sinh sản. Bên cạnh đó, buồng trứng còn có chức năng sản xuất ra hoóc-môn sinh dục, điều khiển hoạt động tình dục và hoạt động sinh sản của con người. 

Những bất thường ở buồng trứng thường gặp: 

Không có buồng trứng hoàn toàn. 

Chỉ có một bên buồng trứng: có thể có hoặc không có vòi trứng kèm theo. 

Thừa buồng trứng. 

Vị trí buồng trứng bất thường: ở thắt lưng, bẹn. 

Trong trường hợp không có cả hai buồng trứng sẽ dẫn đến hiện tượng vô sinh và những đặc điểm hình thể cũng có nhiều biến đổi. Nếu chỉ có một buồng trứng và vẫn hoạt động bình thường thì bạn gái vẫn có thể có thai. 

Dị dạng vòi trứng: Vòi trứng là cơ quan nối giữa các buồng trứng với tử cung, là nơi noãn gặp và kết hợp với tinh trùng tạo thành hợp tử và phát triển những bước đầu tiên. 

Một số dị dạng thường gặp ở vòi trứng như: 

Vòi trứng bị chít hẹp. 

Thừa vòi trứng: bình thường mỗi buồng trứng chỉ có một vòi trứng, tuy nhiên có những trường hợp bất thường có thể có hai vòi trứng ở một bên buồng trứng. 

Thừa loa vòi trứng: mỗi vòi trứng chỉ có một loa vòi, song trong một số trường hợp có thể có hai loa vòi ở một vòi trứng. 

Cơ quan sinh dục trong và ngoài không tương thích: Trong quá trình phát triển biệt hóa cơ quan sinh dục, bộ phận sinh dục trong và ngoài có thể không tương thích với nhau, ví dụ, có buồng trứng, tử cung nhưng âm vật lại phì đại gần như dương vật, môi lớn sệ xuống gần như bìu (nhưng không có tinh hoàn) hoặc bộ phận sinh dục ngoài gần giống với nữ (dương vật nhỏ, ngắn, bìu nhỏ) nhưng lại không có tử cung, buồng trứng mà lại có tinh hoàn trong bìu. 

Những dị dạng này có từ trong giai đoạn bào thai và ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định giới tính của trẻ sau khi ra đời. Vì vậy, nếu phát hiện sớm, có thể phẫu thuật chỉnh hình để cơ quan sinh dục trong và ngoài tương ứng với nhau và bảo tồn được chức năng của các cơ quan sinh dục. 

Trong những trường hợp đã lớn, đã nhận thức được về giới tính của bản thân cũng như đã phát triển thiên về giới tính nào thì có thể được chỉnh sửa cơ quan sinh dục cho phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề này vẫn còn đang được tranh cãi về mặt pháp lý. 


BS. NGUYỄN MẠNH TRÍ
Click đọc ngay…

Rong kinh ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe

21:00 |
Một chu kỳ bình thường sẽ kéo dài từ 28 đến 32 ngày, thời gian hành kinh trung bình 3 - 5 ngày. Máu kinh có màu đỏ sẫm, không đông, có nhiều chất vụn của tế bào niêm mạc âm đạo - tử cung và nhiều vi khuẩn có sẵn trong âm đạo. 

Rong kinh là hiện tượng hành kinh đúng chu kỳ nhưng kéo dài trên 7 ngày và lượng máu mất đi vượt quá 80ml/chu kỳ kinh nguyệt (bình thường khoảng 50 - 80 ml/ chu kỳ). 

Nguyên nhân gây rong kinh 

Rong kinh ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý và sức khỏe chị em

Nguyên nhân gây rong kinh được chia ra làm hai loại: rong kinh cơ năng và rong kinh do nguyên nhân thực thể. 

Rong kinh cơ năng: Thường gặp nhất ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của thời kỳ dậy thì và tiền mãn kinh (chu kỳ kinh nguyệt thưa dần, hành kinh nhiều huyết, kéo dài,…). Trong vòng hai năm đầu tiên sau khi bắt đầu có kinh, các thiếu nữ thường có vòng kinh không đều vì không có phóng noãn. 

Chu kỳ thường từ 21 đến 40 ngày, lên xuống 10 ngày từ chu kỳ này qua chu kỳ sau. Rong kinh đôi khi kèm với cường kinh, nhất là khi trước đó có một vòng kinh dài bất thường. 

Trong chu kỳ không phóng noãn, estrogen tăng lên kéo dài, không có hoàng thể và cũng không có hiện tượng bong nội mạc tử cung. Nội mạc cứ dày lên mãi trong khi mạch máu không tăng trưởng kịp nên không đủ máu nuôi, dẫn đến hoại tử và bong ra từng mảng, gây ra huyết nhiều và kéo dài. 

Rong kinh do nguyên nhân thực thể: Là do tổn thương thực thể ở tử cung hoặc buồng trứng như: u xơ tử cung, viêm nội mạc tử cung, pôlyp tử cung, buồng trứng đa nang, ung thư nguyên bào nuôi, ung thư cổ tử cung, ung thư nội mạc tử cung,… Ngoài ra một số thuốc tránh thai có thể gây rong kinh, nhất là các loại thuốc tránh thai khẩn cấp. 

Rong kinh gây ảnh hưởng gì? 

Rong kinh nếu để kéo dài gây mất máu dẫn đến bệnh thiếu máu với các triệu trứng mệt mỏi, khó thở... Ra máu kéo dài tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập dẫn đến viêm nhiễm sinh dục. Vi khuẩn sẽ lan ngược từ âm hộ vào âm đạo, vào buồng tử cung và có thể lên vòi trứng gây viêm phần phụ, thậm chí gây vô sinh sau này. 

Rong kinh ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt hằng ngày. Về mặt tâm lý, người phụ nữ sẽ luôn có cảm giác khó chịu, thậm chí sợ hãi mỗi khi đến kỳ kinh nguyệt. Rong kinh còn có thể là triệu chứng của một số bệnh ở tử cung hoặc buồng trứng như: u xơ tử cung, viêm nội mạc tử cung, pôlyp tử cung, buồng trứng đa nang,… 

Nếu không được điều trị sớm sẽ gây nhiều biến chứng. Do đó khi bị rong kinh, người phụ nữ nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám xác định nguyên nhân để có hướng điều trị phù hợp, tránh để kéo dài gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản. 


Bác sĩ Thu L an
Click đọc ngay…

Phòng chống viêm đường tiết niệu ở phụ nữ

09:41 |
Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ là một bệnh thường gặp, nhất là lứa tuổi trưởng thành, đã có quan hệ tình dục. Viêm đường tiết niệu gây nên tình trạng mệt mỏi và khó chịu trong đời sống hàng ngày, ảnh hưởng đến lao động, thậm chí gây biến chứng nguy hiểm nếu không chữa trị nghiêm túc. 



Những nguyên nhân viêm tiết niệu



Đường tiết niệu kéo dài từ thận đến lỗ tiểu và có nhiều nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu, trong đó nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam giới, bởi cấu tạo của niệu đạo nữ giới ngắn hơn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn dễ bị nhiễm bẩn. 
Viêm đường tiết niệu ảnh hưởng lớn đến sức khỏe phụ nữ

Đó là chưa kể phụ nữ trong những ngày kinh nguyệt hoặc thời kỳ mang thai nếu vệ sinh không sạch sẽ rất dễ viêm đường tiết niệu hoặc có thói quen tắm bồn là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập đường tiết niệu. Bên cạnh đó, ở tuổi trưởng thành nếu không vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu. 



Một số trường hợp mắc bệnh sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo) rất dễ dẫn đến viêm đường tiệt niệu. Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn (chiếm tỉ lệ 70%) hoặc vi nấm. 



Vi khuẩn thường hay gặp nhất là E.coli, Proteus, Enterobacter, tụ cầu loại gặp nhiều nhất là S. epiermitidis (tụ cầu da), S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). Đối với vi nấm thường gặp là Candida albicans. Ngoài ra, có một số yếu tố thuận lợi gây nguy cơ mắc bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, đó là thói quen uống ít nước làm cho việc đào thải chất cặn bã chậm lại hoặc thói quen nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng kéo dài tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi nấm tồn tại và phát triển gây bệnh. 



Một số trượng hợp do đi giày cao gót thường xuyên khiến hông và xương sống bị ảnh hưởng, gây nên tiểu tiện không đều, dễ bị viêm nhiễm đường tiết niệu. Ngoài ra, một số tác giả đề cập đến vai trò di truyền trong viêm đường tiết niệu ở nữ giới, có nghĩa là do gen chỉ huy hoạt động của hệ thống tiết niệu bị lỗi. Hoặc do rối loạn thần kinh thực vật chỉ huy, điều hành hoạt động của bàng quang gây rối loạn tiểu tiện có thể gây nên viêm đường tiết niệu. 
Triệu chứng viêm tiết niệu



Viêm tiết niệu ở phụ nữ thường xuất hiện buồn tiểu và rất muốn đi tiểu, có cảm giác đau, tức ở bụng dưới (tương ứng với bàng quang), nhất là lúc đi tiểu. Người bệnh có thể đi tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đục, có mùi khai nồng. Các triệu chứng này ngày một nặng thêm. Một số trường hợp có sốt do viêm cấp, nếu bị nhiễm trùng đường tiết niệu ở niệu quản, thận, có thể đau ê ẩm vùng thắt lưng. Nhiều trường hợp xuất hiện tiểu đêm, thậm chí tiểu dầm. 



Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ nếu không được phát hiện, chữa trị đúng và người bệnh không thực hiện nghiêm túc do chủ quan, xem thường có thể gây biến chứng viêm đường tiết niệu lan rộng (nhiều bộ phận của đường tiết niệu bị viêm nhiễm), nguy hiểm nhất là gây viêm thận, hậu quả có thể suy thận. Từ viêm đường tiết niệu, vi sinh vật gây bệnh có thể vào máu gây nhiễm trùng huyết. 



Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, ngoài các triệu chứng lâm sàng, cần làm xét nghiệm nước tiểu để tìm căn nguyên gây bệnh (vi khuẩn, vi nấm). Trên cơ sở nuôi cấy vi khuẩn, phân lập được vi khuẩn, có thể thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh có tác dụng mạnh nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. 



Bên cạnh đó, cần siêu âm hệ tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang) để phát hiện sự viêm nhiễm và các tác nhân gây cản trở sự lưu thông nước tiểu (sỏi, di dạng, u…). Trong trường hợp cần thiết có thể nội soi (nội soi bàng quang), chụp X-quang, hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT), tốt hơn nữa là chụp cộng hưởng từ (MRI). 
Uống nhiều nước giúp phòng viêm tiết niệu hiệu quả
Nguyên tắc điều trị 



Nguyên tắc điều trị viêm đường tiết niệu là dùng kháng sinh, đủ liều lượng. Nếu xác định được loại vi khuẩn gì và có kết quả của kháng sinh đồ. Bác sĩ điều trị sẽ cân nhắc, xem xét nên dùng kháng sinh gì là tốt nhất, bởi vì, còn tùy thuộc vào đối tượng bị bệnh (đang mang thai, người có tuổi, thể trạng dị ứng…). Vì vậy, người bệnh không nên ngại đi khám bệnh và không được tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc kháng sinh để điều trị. 



Để phòng bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, trước tiên cần vệ sinh vùng kín sạch sẽ hàng ngày, nhất là thời kỳ hành kinh, mang thai hoặc trước và sau quan hệ tình dục. Khi dùng nước để rửa cần phải dội từ trước ra sau để tránh nhiễm bẩn từ hậu môn và mỗi lần đi đại tiện xong, dùng giấy vệ sinh, cần lau từ trước ra sau. 



Sau khi quan hệ tình dục nên đi tiểu ngay để nước tiểu đẩy vi khuẩn ra khỏi niệu đạo, tránh viêm ngược dòng. Cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 1,5 - 2,0 lít) bao gồm cả lượng nước có trong rau, canh, hoa quả… Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn chiếm tỉ lệ 70% 





ThS.BS. BÙI MAI HƯƠNG

Xem thêm bài viết:

>>> Phòng viêm tiết niệu khi mang thai

Click đọc ngay…

Khắc phục hội chứng tiền kinh nguyệt cho chị em

18:19 |
Rất nhiều phụ nữ trước và khi hành kinh thường thay đổi tính tình với các biểu hiện như đau đầu, cáu kỉnh, sốt ruột, mệt mỏi, dễ tức giận, thay đổi vị giác, đau cơ và khớp, các vấn đề về tiêu hóa… gọi là hội chứng tiền kinh nguyệt (TKN). 

Vậy nguyên nhân nào gây ra sự thay đổi ấy? Bài viết dưới đây là một trong những vấn đề cần lưu ý trước kỳ kinh nguyệt giúp bạn hiểu và kiểm soát cảm xúc, khắc phục tình trạng nói trên nhằm cải thiện chất lượng sống. 

Kinh nguyệt là gì? 


Kinh nguyệt là hiện tượng ra huyết có chu kỳ của người phụ nữ. Cụ thể là dưới tác dụng của hormon (nội tiết) sinh dục, hàng tháng có một nang noãn (trứng) phát triển làm niêm mạc tử cung dày lên. Đến giữa tháng, noãn được phóng ra nếu gặp tinh trùng thì thụ thai và có thai. Nếu không thụ thai, noãn teo đi và cuối tháng, niêm mạc tử cung bong ra tạo thành kinh nguyệt. 

Thông thường, vòng kinh 30 ngày, ra huyết 4-5 ngày là hết. Tuổi hành kinh thường bắt đầu từ 13 ( tuổi dậy thì) và hết kinh (mãn kinh) khoảng 47-52. Hầu hết phụ nữ và các cô gái đều bị hội chứng TKN mà nguyên nhân liên quan đến những sự thay đổi về hormon (nội tiết) xảy ra trong chu kỳ kinh nguyệt. 

Những triệu chứng phổ biến của hội chứng TKN 

Trước kỳ kinh vài ba ngày, phụ nữ thường có xu hướng cảm thấy tinh thần không ổn định: dễ nổi cáu… Nguyên nhân là do sự thay đổi nồng độ hormon trong máu, đó là sự giảm đi của nồng độ estrogen và progestergon, nồng độ hormon tuyến giáp thyroid cũng giảm và dẫn đến mệt mỏi dù công việc, hoạt động không thay đổi. 

Sự suy giảm nồng độ hormon cùng với sự thay đổi huyết áp, chức năng của hệ miễn dịch và những biến đổi chuyển hóa của cơ thể là nguyên nhân gây thay đổi tâm trạng và diện mạo với một số triệu chứng phổ biến trước kỳ kinh nguyệt như uể oải, buồn ngủ, chóng mặt, nổi mụn, căng đau ở ngực, đau lưng, co thắt cơ bắp cũng khiến cho cơ thể, tinh thần trở nên tồi tệ.

Bụng to hơn bình thường, cơ thể nặng nề, cảm thấy như mình tăng cân kèm theo đau bụng, đầy hơi và táo bón; Cảm giác đối với ăn uống cũng có thể thay đổi, thậm chí cảm thấy buồn nôn. 

Giảm triệu chứng tiền kinh nguyệt thế nào? 

Kiểm soát stress vì stress có thể làm cho hội chứng TKN trở nên nặng hơn; Chỉ cần bạn nhận thức được rằng bạn bị căng thẳng, khó chịu tiền kinh nguyệt (trong vòng 7-8 ngày trước kỳ kinh) là đã có thể giảm đi mức độ mệt mỏi phần nào. 

Tạo tâm lý thoải mái cùng với những bài tập thể dục phù hợp giúp bạn giảm khó chịu trước kinh kỳ; các liệu pháp giúp thư giãn như yoga và xoa bóp cũng có thể giải tỏa những rắc rối; chế độ ăn lành mạnh, dễ tiêu hóa - giảm lượng muối, cà phê, đường, ăn nhiều cá, đậu, các loại hạt, trái cây, rau và ngũ cốc…;

Ăn thành nhiều bữa ăn nhỏ - điều này có thể làm hạn chế đầy hơi; Ăn những thức ăn chứa nhiều canxi như sữa, pho mát và sữa chua có thể giúp làm giảm triệu chứng và cảm xúc của hội chứng tiền kinh nguyệt. 


BS. Dương Ngọc Liên
Click đọc ngay…

Sa sinh dục, nỗi niềm khó nói của chị em

15:05 |
Sa sinh dục thường gọi là sa dạ con hay sa tử cung. Nhưng thực tế không chỉ dạ con mà thường cả bàng quang và trực tràng sa vào trong âm đạo. Trường hợp nặng, các tạng trên có thể sa ra ngoài âm đạo. Do đó, người ta gọi là sa sinh dục. 

Đây là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt, lao động của phụ nữ. Chị em thường cam chịu, giấu bệnh vì căn bệnh khó nói này nên phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là rắc rối trong quan hệ vợ chồng. 

Tử cung là một tạng nằm sâu trong ổ bụng. Nó được giữ tại chỗ bằng lớp cơ và các tổ chức vùng đáy chậu (dàn của phần dưới khung xương chậu), bởi các thành âm đạo và các dây chằng trong bụng và chậu hông.


Nếu vì một lý do nào đó, các bộ phận neo giữ tử cung bị giãn, nhão ra thì áp lực trong ổ bụng (khi thở, khi rặn, khi ho) và sức nặng của tử cung sẽ đẩy, kéo nó tụt dần xuống thấp gây nên sa sinh dục với các mức độ khác nhau. 

Nguyên nhân sa sinh dục? 

Nguyên nhân gây bệnh có thể do: đẻ sớm, đẻ dày, đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, sau đẻ lao động sớm hoặc lao động nặng, người ốm yếu suy dinh dưỡng sau đẻ hoặc thiếu ăn, suy dinh dưỡng, cơ thể ốm yếu, tất cả các nguyên nhân trên đều dẫn đến tình trạng các dây chằng của tử cung (dây chằng tử cung cùng, dây chằng tròn, dây chằng rộng và các mô liên kết), các cơ vùng đáy chậu bị giãn mỏng, suy yếu hoặc bị rách, không đủ sức giữ tử cung ở vị trí cũ. 

Do đó, khi có một động tác nào làm cho áp lực trong ổ bụng bị tăng lên như ho liên tục, đại tiện phải rặn nặng khi táo bón… sẽ đẩy tử cung sa xuống dưới và ra ngoài âm đạo. 

Biểu hiện của sa sinh dục? 

Trên lâm sàng, sa sinh dục (vị trí sa của cổ tử cung so với âm hộ) chia làm 3 độ sa sinh dục: độ 1 (độ nhẹ), độ 2 (vừa) và độ 3 (nặng). Tùy theo từng người, tùy mức độ sa nhiều hay sa ít, mới sa hay sa từ lâu, sa đơn thuần hay còn có thương tổn phối hợp, có kèm theo sa bàng quang hay trực tràng mà xuất hiện những dấu hiệu thường gặp sau đây: khó chịu, cảm giác tức nặng vùng cửa mình, ở bụng dưới, nhất là khi đứng, nhưng khi nằm thì hết cảm giác trên. 

Đôi khi có cảm giác muốn rặn đẻ vì các tĩnh mạch ở vùng đáy chậu bị sa sung huyết, đồng thời do áp lực trong thành bụng dồn xuống vùng đáy chậu đã bị suy yếu. Hay bị đau vùng sau thắt lưng. Tùy theo mức độ sa nhiều hay ít, thời gian sa mới hay đã lâu, sa đơn thuần hay có tổn thương phối hợp. 

Khối sa lồi ở vùng âm hộ, tầng sinh môn; Ban đầu kích thước khối sa nhỏ, sa không thường xuyên, xuất hiện khi lao động nặng hoặc đi lại nhiều, nằm nghỉ thì khối sa tụt vào trong âm đạo hoặc tự đẩy lên được, càng về sau khối sa càng to, sa thường xuyên, không tự đẩy lên được nữa. 

Tức nặng bụng dưới, cảm giác vướng víu khó chịu vùng âm hộ - tầng sinh môn, ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Nếu kèm theo sa bàng quang thì có dấu hiệu đi đái khó, đái dắt, són đái khi cười to, khi ho mạnh hay khi bị rùng mình, thường đái không hết nước tiểu nên bàng quang dễ bị viêm gây ra đái buốt. 

Trường hợp sa bàng quang nhiều thì lúc đầu đi tiểu rất khó khăn, phải dùng ngón tay đẩy bàng quang lên trên và vào trong mới đi tiểu được. Đôi khi bệnh nhân đến viện vì bí đái cấp. Nếu kèm theo sa trực tràng thì đại tiện có cảm giác vẫn còn chưa hết phân ở trực tràng, có thể bị táo bón. 

Nhiều người sa sinh dục nhưng kinh nguyệt vẫn bình thường và vẫn có khả năng có thai. Những phụ nữ này dễ bị sẩy thai và đẻ non. Chảy máu, khí hư ra nhiều do cổ tử cung viêm nhiễm, cọ xát làm người bệnh đi lại khó khăn, hạn chế lao động… 


Điều trị sa tử cung thế nào? 

Tuỳ độ sa mà sau khi thăm khám bác sĩ sẽ có chỉ định can thiệp ngoại khoa (thường khi sa mức độ 3). Trước đây, để điều trị bệnh sa sinh dục, các bác sĩ thường dùng phương pháp cắt tử cung, khâu treo bàng quang, làm lại thành trước và sau âm đạo hoặc phẫu thuật bịt âm đạo. 

Như vậy, đồng nghĩa với việc loại bỏ người bệnh khỏi “cuộc chơi yêu đương”, chấm dứt “chuyện yêu” của người phụ nữ khiến người phụ nữ luôn mặc cảm, đánh mất đi hạnh phúc làm vợ, làm mẹ của họ và gặp nhiều biến chứng. 

Hiện tại, bằng phương pháp chữa bệnh mới sẽ giúp người bệnh giữ được dạ con và vẫn sinh nở bình thường với điều kiện người bệnh phải điều trị sớm. 10% phụ nữ Việt Nam mắc bệnh sa sinh dục sau sinh. Đó là kết quả do Bộ Y tế công bố, phần lớn người bệnh nằm trong độ tuổi từ 40 – 60. 

Người trẻ chưa đẻ lần nào cũng có thể bị sa sinh dục. Những phụ nữ đẻ nhiều, đẻ quá sớm, lao động nặng, không được đỡ đẻ an toàn và đúng kỹ thuật đều dễ mắc bệnh sa sinh dục. Cá biệt, một số ít phụ nữ còn mắc bệnh sa sinh dục từ hồi 25 - 30 tuổi do bẩm sinh cơ yếu.


BS. Phạm Minh Nguyệt
Click đọc ngay…

Vô kinh, nguyên nhân và điều trị vô kinh

14:55 |
Vô kinh là tình trạng hoàn toàn không có kinh nguyệt ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ. Vô kinh được chia làm hai loại: vô kinh nguyên phát và vô kinh thứ phát. 

Vô kinh là gì? 

Vô kinh nguyên phát được chẩn đoán khi bệnh nhân đến 16 tuổi nhưng chưa có chu kỳ kinh nguyệt nào dù có hay không có các đặc tính sinh dục thứ phát. Tần suất vô kinh nguyên phát khoảng 1%. 

Vô kinh khiến chị em rất lo lắng sau sẽ vô sinh

Vô kinh thứ phát được định nghĩa là sự biến mất của kinh nguyệt trong 3 chu kỳ liên tiếp hay trong 6 tháng liên tục ở những phụ nữ đã từng có kinh nguyệt. Tần suất vô kinh thứ phát khoảng 0,7%. 

Nguyên nhân dẫn đến vô kinh nguyên phát 

Vô kinh nguyên phát được chia thành hai nhóm nguyên nhân rõ ràng là có đặc tính sinh dục thứ phát và không có đặc tính sinh dục thứ phát. Đặc tính sinh dục thứ phát chính là vú và lông mu. Một bệnh nhân vô kinh nguyên phát mà có đặc tính sinh dục thứ phát thì nguyên nhân vô kinh là gì? 

Một bệnh nhân vô kinh thứ phát mà có sự phát triển của đặc tính sinh dục thứ phát mà không có tử cung thì có hai nguyên nhân có thể xảy ra là hội chứng không nhạy cảm với androgen hoặc là hội chứng Mayer Rokitansky Kuster hauser (hội chứng MRKH). 

Bệnh nhân mắc hội chứng không nhạy cảm với androgen là do bị đột biến gen quy định thụ thể của androgen nằm trên nhiễm sắc thể (NST) X dẫn đến hậu quả không thể nam hóa cơ quan sinh dục trong thời kỳ bào thai. Từ đây dẫn đến mặc dù bệnh nhân mang bộ NST XY nhưng bộ phận sinh dục ngoài là nữ hoặc không rõ là nam hay nữ, còn tinh hoàn thì nằm bên trong cơ thể. 

Những bệnh nhân này nên được phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn vì có nguy cơ cao ác tính hóa tinh hoàn trong ổ bụng. Sau khi cắt tinh hoàn bệnh nhân sẽ được bổ sung estrogen để hỗ trợ sự phát triển trong tuổi dậy thì. 

Bệnh nhân có hội chứng MRHK có đặc tính sinh dục thứ phát bình thường, bộ phận sinh dục ngoài bình thường, có bộ NST là 46 XX và có hai buồng trứng. Tuy nhiên không có âm đạo hoặc âm đạo rất nông. Điều trị đối với bệnh nhân này là phẫu thuật tạo hình một âm đạo giả khi bệnh nhân có nhu cầu quan hệ tình dục. 

Nếu một bệnh nhân vô kinh thứ phát mà có sự phát triển của đặc tính sinh dục thứ phát và có tử cung bình thường thì nguyên nhân vô kinh là do tắc nghẽn đường ra của kinh nguyệt (màng trinh không thủng, màng ngăn ngang âm đạo). Điều trị nguyên nhân này đơn giản chỉ là phẫu thuật để giải phóng tắc nghẽn: cắt vách ngăn, mở màng trinh. 


Bệnh nhân vô kinh nguyên phát mà không có đặc tính sinh dục thứ phát thì nguyên nhân vô kinh là gì? 

Chẩn đoán vô kinh trong trường hợp này chủ yếu dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng và nhiễm sắc thể đồ. Nguyên nhân thường gặp nhất trong nhóm này là suy hạ đồi - tuyến yên - buồng trứng. 

Đây là một hội chứng do thiếu kích thích của hormon GnRH từ vùng hạ đồi dẫn đến giảm chế tiết hormon từ tuyến yên (FSH, LH), kết quả làm buồng trứng giảm hay mất chức năng chế tiết hormon sinh dục, mất chức năng phát triển nang noãn và phóng noãn. Hội chứng này chiếm tỷ lệ 1/8000 trẻ được sinh ra. 

Hội chứng suy hạ đồi - tuyến yên - buồng trứng kèm theo mất hoặc giảm khứu giác thì được gọi là hội chứng Kallman. Hội chứng Turner là một trong những bất thường NST thường gặp khoảng 1/2000 bé gái được sinh ra. Bộ NST của bệnh nhân này là 45XO và họ vô kinh bởi vì tuyến sinh dục được thay thế bởi các dải xơ không chứa nang noãn. 

Suy buồng trứng sớm: là một bất thường buồng trứng khiến cho bệnh nhân không dậy thì mặc dù họ vẫn có tử cung, vòi trứng, âm đạo như người bình thường. Khoảng 50% các trường hợp vô kinh nguyên phát do suy buồng trứng sớm là bất sản buồng trứng, còn lại do bệnh tự miễn, hóa chất trị liệu, phóng xạ… 

Chẩn đoán dựa trên xét nghiệm estrogen và inhibin thấp còn FSH và LH rất cao. Để hạn chế những hậu quả do thiếu hụt nội tiết gây ra, bệnh nhân nên được bổ sung estrogen/progestin và giải pháp duy nhất để điều trị vô sinh trong trường hợp này là xin trứng. 

Nguyên nhân vô kinh thứ phát 

Sau khi loại trừ nguyên nhân vô kinh do có thai thì nguyên nhân vô kinh thứ phát có thể do suy giáp, tăng prolactin máu, hay một số nguyên nhân khác. 

Suy giáp: bệnh nhân suy giáp thường hay mệt mỏi, trầm cảm, táo bón, vô kinh. Khi định lượng hormon tuyến giáp trong máu thấy giảm nhiều (T3,T4) và TSH máu tăng cao. 

Tăng prolactin máu: là một rối loạn nội tiết thường gặp của vùng hạ đồi-tuyến yên. Tăng prolactin máu gây tiết sữa, kinh thưa hoặc vô kinh, vô sinh. Những bệnh nhân vô kinh có prolactin máu trên 100 ng/ml nên được chỉ định chẩn đoán hình ảnh để loại trừ u tuyến yên. 

Điều trị u micoadenoma tuyến yên có thể sử dụng thuốc đồng vận dopamin. Điều trị tăng prolactin máu bằng bromocriptine hoặc carbegoline mang lại hiệu quả tốt. U tuyến yên macroadenomas có thể điều trị bằng thuốc (chất đồng vận agonist) hoặc phẫu thuật cắt bỏ. 

Các nguyên nhân vô kinh thứ phát khác: hai nguyên nhân thường gặp nhất của nhóm bệnh nhân này là tắc nghẽn đường ra của kinh nguyệt và hội chứng buồng trứng đa nang. 

Bệnh nhân có tắc nghẽn đường ra kinh nguyệt thứ phát thường do có tiền sử nạo buồng tử cung, sau phẫu thuật bóc u xơ tử cung, mổ lấy thai dẫn đến dính buồng tử cung, dính lỗ trong cổ tử cung. Để chẩn đoán nguyên nhân này chúng ta có thể chụp cản quang tử cung - vòi trứng. Tùy theo mức độ tổn thương, có thể điều trị bằng cách tách dính buồng tử cung hay kênh cổ tử cung qua nội soi. 

Hội chứng buồng trứng đa nang là một bệnh lý rối loạn nội tiết hay gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Là một nguyên nhân phổ biến gây vô sinh do không phóng noãn. Triệu chứng cơ bản bao gồm: thiểu kinh hoặc vô kinh, cường androgen và hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm. 

Việc vô kinh hay thiểu kinh ở bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang có thể bắt đầu xuất hiện sớm ở tuổi dậy thì. Điều trị hội chứng này bao gồm điều trị vô sinh và điều trị các triệu chứng do cường androgen gây nên: béo phì, rậm lông, đái tháo đường, nguy cơ bệnh tim mạch. Ngoài ra thuốc tránh thai kết hợp dạng viên giúp duy trì nội mạc tử cung và những chu kỳ kinh đều đặn cho bệnh nhân. 


Bệnh nhân có suy hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng thứ phát thường trước đấy có kinh nguyệt bình thường, các nội tiết sinh dục bình thường. Nhưng sau đấy trở nên vô kinh, giảm chế tiết GnRH dẫn đến giảm nồng độ FSH, LH và estrogen trong máu. Nhiều giả thuyết cho rằng nguyên nhân của vấn đề này là do giảm cân, tập luyện quá sức hay quá căng thẳng. 

Vậy nên theo Mitan (2004) thì những bệnh nhân này nếu có chế độ thư giãn và có cân nặng hợp lý thì kinh nguyệt lại trở về đều đặn như bình thường. Còn nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến những nguy hại cho sức khỏe như: loãng xương, bệnh lý tim mạch, bốc hỏa… trong trường hợp này viên thuốc tránh thai kết hợp và bổ sung canxi sẽ giúp bệnh nhân giảm đi được những triệu chứng trên. 

Tóm lại, vô kinh là triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau. Vậy nên nếu một người phụ nữ mà có dấu hiệu vô kinh thì nên đến các cơ sở chuyên khoa về sản phụ khoa để được thăm khám và được chẩn đoán đúng nguyên nhân. Từ đó giúp điều trị hiệu quả không chỉ với rối loạn kinh nguyệt của bệnh nhân mà còn các vấn đề sức khỏe khác có liên quan như mong muốn như có thai, loãng xương… 


TS. Vũ Văn Du – ThS. Nguyễn Bá Thiết
Click đọc ngay…

Thuốc điều trị nhiễm herpes sinh dục

10:31 |
Herpes simples virus (HSV) gây ra herpes sinh dục nữ cũng như gây ra các bệnh viêm não, loét giác mạc mắt cho trẻ bị lây nhiễm HSV từ mẹ. Do ngại độc, ngại không an toàn với thai, nhiều người bệnh đã không dùng thuốc sớm, thiếu tích cực và kiên nhẫn nên bệnh hay tái phát, lây nhiễm rộng trong cộng đồng và cho trẻ sơ sinh. 

Tình trạng nhiễm HSV

HSV có 2 loại: HSV1 lây truyền qua miệng, qua nước bọt. HSV2 lây truyền qua sinh hoạt tình dục. Trước đây, HSV2 được cho là tác nhân chủ yếu gây herpes sinh dục. Ngày nay, các trường hợp nhiễm HSV1 sinh dục ngày một gia tăng, vượt quá 50% trong dân số nữ nên HSV1 cũng được xem là tác nhân gây ra loét sinh dục tái phát.


Khoảng 70% số người lành nhiễm HSV nhưng không có triệu chứng. Khi sức khỏe giảm sút, có cơ hội thuận lợi, các HSV có sẵn trong cơ thể sẽ gây ra mụn rộp ở bộ phận sinh dục và các bộ phận khác. Có 40% số người nhiễm HSV lần đầu sẽ tái phát thành viêm loét sinh dục trong năm đầu (Benedetti J-1994).

Tỉ lệ nhiễm HSV ở nữ rất cao không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Từ Dũ trên 1.135 nữ (15 - 69 tuổi) thấy nhiễm HSV1 98% nhiễm HSV2 là 35,2% tương đương với Hà Nội lần lượt là 99 - 11,3%. Tại Canada, nhiễm HSV1 là 51,1%, HSV2 là 9,1% (Howard M-2003), tỉ lệ thai phụ nhiễm HSV là 17,3% (Patrick DM -200).

Tốc độ nhiễm HSV tăng rất nhanh trên toàn cầu: Anh tăng 6 lần (1972 - 1994), Mỹ tăng 9,43 lần (1970 - 1994); tốc độ tăng trong giai đoạn sau có giảm hơn trước, song vẫn còn nhanh: Pháp nhiễm HSV2 tăng gấp đôi (2000 - 2010).Việt Nam, ước nhiễm HSV (cả nam và nữ) tăng 30% (1985 - 2010).

Nhiễm herpes sinh dục sau 2 - 7 ngày thường có biểu hiện đau và ngứa. Vài giờ đến vài ngày sau giai đoạn đầu này thì vết loét xuất hiện. Đầu tiên chỉ là một chỗ sưng đỏ nhỏ, mềm, đau, rồi trở nên mọng nước trong vòng một vài ngày; sau đó chúng vỡ miệng, trở thành vết loét, gây rỉ dịch hoặc chảy máu.

Ở nữ, vết loét có thể ở vùng âm đạo, cơ quan sinh dục ngoài, mông, hậu môn, hoặc bên trong cổ tử cung. Ở nam, vết loét có thể ở dương vật, bìu, mông, hậu môn, đùi, niệu. Vết gây ra đau đớn rất nhiều khi đi tiểu; gây cơn đau đớn và nhiều cảm giác khó chịu khác ở vùng sinh dục.

Trong giai đoạn bột phát, có thể có các triệu chứng nhiễm virút thông thường giống bệnh cúm, gồm sốt, nhức đầu và nổi hạch bẹn. Các dấu hiệu, triệu chứng trên có thể tái phát không thường xuyên, có thể qua hàng năm hay hàng tháng làm cho chất lượng cuộc sống người bệnh bị giảm sút nghiêm trọng.

Khoảng 30 - 40% số thai phụ nhiễm HSV có nguy cơ truyền bệnh cho con (qua cuống rốn hay lúc sinh), tập trung vào các tháng nửa sau thai kỳ gây viêm não, tổn thương não, loét giác mạc, mờ mắt hay tử vong cho trẻ. Theo đó, việc điều trị nhiễm HSV rất cần thiết, đặc biệt càng cần thiết ở phụ nữ mang thai.

Các thuốc kháng HSV thường dùng


Bao gồm: acyclovir, famcyclovir, valacylovir.

Acyclovir:

Về dược tính: chất tương tự nucleosid (acycloguanosin), có tác dụng chọn lọc trên tế bào nhiễm HSV. Khi vào cơ thể, chuyển thành acyclovir monophosphat nhờ enzyme thimidinkinase của virút; sau đó chuyển thành aciclovir triphosphat nhờ các emzyme khác của tế bào. Acyclovir triphosphat ức chế tổng hợp DNA, ngăn cản sự nhân lên của virút mà không ảnh hưởng gì đến chuyển hóa của tế bào bình thường.

Acyclovirc tác dụng mạnh nhất với HSV1, kém hơn với HSV2, đặc biệt có tác dụng tốt trong viêm não do HSV1 (làm giảm tử vong từ 70% xuống 20%, giảm tỉ lệ các biến chứng nghiêm trọng trên những người được chữa khỏi), cũng có tác dụng tốt trên thể viêm mãng não nhẹ hơn do HSV2. Trong nhiễm HSV, acyclovir được dùng điều trị khởi dầu và dự phòng tái phát HSV2 đường sinh dục; điều trị khởi đầu và dự phòng tái nhiễm HSV1 và HSV2 ở da niêm mạc, viêm não do HSV1, viêm màng não nhẹ do HSV2.

Về cách dùng: nguyên tắc: phải dùng sớm ngay khi có triệu chứng, dùng liều cao vì thuốc phân bổ rộng trong các dịch (âm đạo, nước mắt, thủy dịch, tinh dịch, dịch não tủy) và trong các tổ chức (não, thận, phổi, ruột, gan, lách, cơ, tử cung, niêm mạc), sinh khả dụng đường uống trung bình 20% (15 - 30%).

Phải dùng nhiều lần trong ngày vì chu kỳ bán thải ngắn (người lớn khoảng 3 giờ, ở trẻ em 2 - 3 giờ, ở trẻ sơ sinh 4 giờ). Phải dùng kéo dài đúng theo liệu trình (có thể dùng lặp lại khi bệnh tái phát hay dùng dự phòng hàng ngày ở liều thấp hơn, một vài trường hợp có khi còn dùng hầu như suốt đời theo từng định kỳ vì thuốc chỉ ổn định song không chữa khỏi hẳn bệnh). Theo đó, tùy theo tình trạng bệnh mà chọn cách, dạng, liều dùng thích hợp.

Dạng thuốc uống: trong đợt lâm sàng nhiễm herpes sinh dục đầu tiên: dùng 400mg x 3 lần/ ngày x 7 - 10 ngày. Sau đó có thể dùng trong từng đợt tái phát (400mg x 3 lần/ ngày x 5 ngày) hoặc dùng theo kiểu điều trị “khống chế tái phát” (dùng hàng ngày, 400mg x 2 lần /ngày). Dùng kiểu “khống chế tái phát” sẽ hạn chế tần suất tái phát đến 70%. Trong lựa chọn, ngoài việc tính lợi ích điều trị, cần lưu ý đến chi phí vì thuốc khá đắt.

Dạng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch: thường chỉ dùng trong trường hợp nặng như nhiễm HSV tiên phát ở miệng hay sinh dục, nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh, viêm giác mạc nặng do HSV. Thí dụ trong viêm não do HSV1 dùng 10mg/kg và cứ 8 giờ dùng một lần trong 10 - 14 ngày.

Dạng thuốc dùng tại chỗ: cần dùng kết hợp với thuốc toàn thân (uống hay tiêm tùy trường hợp). Với thuốc mỡ dùng ngay từ khi có triệu chứng, bôi lên nơi tổn thương 5 - 6 lần/ngày trong 5 - 7 ngày. Với thuốc mắt mỗi ngày tra 5 lần và tiếp tục tra ít nhất là 3 ngày sau khi đã dùng liều điều trị đầu.

Về tính an toàn: Acyclovir cơ bản có tính an toán khá cao. Dùng uống ngắn hạn hay dài hạn (1 năm) có thể gặp nuồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, ban da, nhức đầu nhưng nhẹ; uống hàng ngày, kéo dài (6 năm) không thấy bị tai biến cấp hay mạn gì nghiêm trọng.

Riêng trong truyền tĩnh mạch: thường gặp nhất là viêm tĩnh mạch ở vị trí tiêm. Vì thuốc thải trừ qua thận nếu nồng độ cao sẽ gây kết tủa ở ống thận dẫn tới suy thận cấp nên liều dùng phải căn cứ theo hệ số thanh thải creatinin, tiêm truyền tĩnh mạch chậm (với thời gian truyền trên 1 giờ ), tránh truyền nhanh hay truyền ngay một lượng lớn, khi dùng phải uống kèm đủ nước. Ít gặp hơn là các phản ứng thần kinh - tâm thần (ngủ lịm, run, nhầm lẫn, ảo giác, cơn động kinh), tăng nhất thời ure, creatinin, enzyme gan trong máu. Nguy cơ suy thận tăng lên nếu dùng chung với các thuốc gây độc cho thận.
 
Valacyclovir:

Tiền chất của acyclovir, sản sinh ra acyclovir trong huyết thanh cao gấp 5 lần acyclovir. Vào cơ thể do phải chuyển hóa sang acyclovir mới có hiệu lực nên chậm hơn nhưng lại bền hơn. Liều dùng và số lần dùng trong ngày khác với acyclovir.

Famciclovir: Vào cơ thể sẽ chuyển thành penciclovir có tác dụng chống HSV mạnh hơn, kéo dài hơn acyclovir. Nhờ có tác dụng mạnh và kéo dài, trong đường uống, người ta thường thích dùng famciclovir, valacyclovir hơn.

Ngoài 3 thuốc chính trên, người ta còn dùng một số thuốc khác như dùng loại mỡ chứa 3% denotivir trong tái phát herpes sinh dục, dùng moroxydin khi nhiễm HSV ở mắt.

Tính an toàn của thuốc kháng HSV với người mang thai

Nghiên cứu bằng cách tích lũy các số liệu dị tật trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong danh bạ đăng ký thai (thường do nhà sản xuất tiến hành) hay trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong quần thể chung, sau đó so sánh với tỉ lệ nền dị tật trong dân số.

Số liệu từ Danh bạ đăng ký thai acyclovir (từ 1984 - 1998, do hãng Glaxo welcom thực hiện): có 1.234 trường hợp người mang thai phơi nhiễm acyclovir trong 24 quốc gia, trong đó khảo sát 756 trường hợp phơi nhiễm acyclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ, thấy: nguy cơ trẻ sinh ra bị khuyết tật là 3,2%. Tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ khuyết tật nền trong dân số.

Số liệu từ những người mang thai phơi nhiễm trong quần thể chung (từ 1996 - 2008, do Đan Mạch thực hiện): trong số 837.795 trẻ em được thống kê có 1804 trẻ sinh ra từ bà mẹ bị phơi nhiễm acyclovir, valacyclovir, famciclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ này không có sự khác biệt so với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ những bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm kháng sinh cũng không khác với tỉ lệ dị tật nền trong dân số. Kết quả tương tự cũng thấy ở trẻ sinh ra từ những bà mẹ bị phơi nhiễm các thuốc này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ…

Với dạng thuốc dùng ngoài: tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh trong 3 tháng đầu thai kỳ lần lượt với acyclovir và valacyclovir là 2,3% (65/2.850 trẻ) và 4,2% (5/118 trẻ), không khác biệt với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm.

Những kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ (Paasternat B-2010). Tóm lại, acyclovir, valacyclovir, famicyclovir uống hay dùng ngoài an toàn với thai trong suốt thai kỳ.


DS.CKII. BÙI VĂN UY
Click đọc ngay…