Thận trọng thuốc gây giảm khả năng sinh dục nữ

10:33 |
Với những người phải dùng thuốc trị bệnh, đặc biệt là các bệnh mạn tính, thì một trong những điều lo ngại nhất là tác dụng phụ của thuốc làm giảm khả năng tình dục. Ở phụ nữ, tình dục dễ bị chi phối bởi các yếu tố nhạy cảm như: tâm lý, hoàn cảnh... đồng thời các tác dụng bất lợi của thuốc gây giảm ham muốn tình dục cũng rõ nét hơn. 

Tác dụng phụ gây ảnh hưởng khả năng tình dục nữ 

Tác dụng phụ của thuốc gây hại cho tình dục rất đa dạng, ở cả nam và nữ, có thể ngắn hạn hay kéo dài, nhẹ hay nặng... Tác dụng bất lợi của thuốc tác động trực tiếp đến thực hành tình dục và ảnh hưởng cả về cảm xúc, tâm lý, dẫn đến giảm khả năng tình dục, mất hứng thú tình dục, không thỏa mãn và thậm chí ngại quan hệ tình dục. 


Hơn nữa, đặc trưng tình dục ở nữ giới chỉ được thực hiện khi có sự phối hợp các hoạt động tâm sinh lý của cơ thể. Do đó, những tác động tâm lý cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tình dục của nữ. 

Những tác hại của thuốc đối với tình dục ở nữ bao gồm các rối loạn như: tác động tới cảm xúc và cảm nhận khoái cực; thay đổi về sự tiết dịch nhờn âm đạo; giảm ham muốn tình dục; rối loạn hưng phấn; rối loạn cực khoái; giao hợp đau... 

Một số thuốc tác động khả năng sản sinh nội tiết tố - điều này cũng chi phối nhiều khả năng tình dục. Có loại thuốc gây tăng cảm giác cương đau vú; gây ban đỏ ngoài da, vì thế sẽ đau khi đụng chạm và ảnh hưởng đến cảm thụ tình dục của chị em. 

Những thuốc ảnh hưởng xấu tới tình dục ở nữ 

Thuốc chống trầm cảm: Thuốc chống trầm cảm đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị trầm cảm, nhưng đồng thời đây lại là loại thuốc gây nhiều tác hại cho khả năng tình dục. Bệnh nhân trầm cảm cần uống thuốc liên tục trong thời gian dài (tối thiểu một năm), nhiều người phải uống thuốc suốt đời. 

Các loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng, đa vòng, ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin... đều ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của bệnh nhân ở các mức độ khác nhau. Bệnh nhân nam thường than phiền khó cương dương vật, giảm ham muốn (dù tình trạng trầm cảm đã hết), khó xuất tinh. Bệnh nhân nữ thường thấy mất hết ham muốn, giảm tiết dịch âm đạo, gây đau rát khi quan hệ tình dục. 

Các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tình dục nhiều nhất là amitriptylin và fluoxetin. Các thuốc ít ảnh hưởng hơn đến ham muốn tình dục là tianeptil, fluvoxamin và mirtazapin. Để hạn chế ảnh hưởng của thuốc chống trầm cảm đến đời sống tình dục, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng kết hợp thuốc chống trầm cảm với các thuốc arcalion, piracetam hoặc ginko biloba... 

Trong một vài trường hợp điển hình, bệnh nhân phải đổi thuốc (nếu có thể). Giải pháp khác là loại bỏ các thuốc an thần, thuốc chỉnh khí sắc, vì chính các thuốc này ảnh hưởng xấu đến chức năng tình dục của bệnh nhân. 

Thuốc điều trị tăng huyết áp: Các thuốc kiểm soát huyết áp có tác dụng không mong muốn là làm giảm lưu lượng máu đến cơ quan sinh dục nên thường làm suy giảm hoạt động tình dục ở nữ giới (giảm ham muốn, rối loạn cảm xúc tình dục, ngại quan hệ tình dục...). 

Có thể kể đến các loại thuốc như: thuốc ức chế men chuyển (captopril, enalapril); thuốc đối kháng canxi (nifedipin, amlodipin); các thuốc chẹn bêta giao cảm (metoprolol, nadolol, propranolol); thuốc lợi tiểu thiazide (furosemid, hydrochlorothiazid). Các tác nhân hủy giao cảm trung tâm như α-methyldopa, clonidine và guanfacine gây suy giảm khả năng tình dục cho đa số người sử dụng. 


Thuốc giảm mỡ máu: Các thuốc điều trị mỡ trong máu như: thuốc nhóm statin (simvastatin, atorvastatin...), thuốc nhóm fibrat (fenofibrat, clofibrat...) có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu nên cũng làm giảm sự sản sinh các nội tiết tố estrogen và testosterone trong cơ thể. 

Điều này được lý giải là do cholesterol là nguyên liệu tổng hợp nên các nội tiết tố estrogen, testosterone. Khi sự sản sinh các nội tiết tố này bị giảm, phụ nữ sẽ giảm ham muốn tình dục, giao hợp đau, kém hưng phấn... 

Thuốc tránh thai: Nhiều loại thuốc tránh thai cũng ảnh hưởng nhất định làm giảm ham muốn tình dục của chị em. Hormon trong thuốc tránh thai sẽ ức chế và ngăn cản quá trình rụng trứng do làm giảm thấp mức testosteron, do vậy ảnh hưởng không nhỏ tới cảm xúc và ham muốn tình dục. Hơn nữa, thuốc tránh thai còn gây giảm dịch tiết âm đạo nên gây đau khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng cảm xúc tình dục. 

Thuốc chống động kinh và thuốc chống loạn thần: Các thuốc này gây suy giảm ham muốn tình dục do ảnh hưởng đến hoạt động hormon của hệ trục dưới đồi - tuyến yên - sinh dục, đặc biệt là những thuốc tác động đến hệ enzym cytocrome P450 ở gan. 

Ngoài ra, các thuốc chống loạn thần (risperidon, chloropromazine...) gây các tác dụng không mong muốn lên hoạt động tình dục do tác dụng chẹn anpha-giao cảm và ảnh hưởng đến lượng hormon (tăng prolactine máu). Ảnh hưởng rõ nét của các thuốc này cho tình dục nữ là tình trạng rối loạn cảm xúc, rối loạn cực khoái... 

Thuốc an thần: Do thuốc an thần tác dụng vào thụ thể GABA trong não, làm chậm lại các hoạt động của những chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, serotonin... Do đó, thuốc gây trạng thái mệt mỏi về tâm lý, uể oải, đờ đẫn về tinh thần hay ngủ gà ngủ gật nên dẫn đến giảm ham muốn và ngại quan hệ tình dục. 

Các loại thuốc khác: Một số loại thuốc, khi người bệnh phải dùng lâu dài cũng sẽ gây hại cho tình dục như: thuốc kháng histamin (chlorpheniramin, dexchlorpheniramin...); thuốc điều trị viêm loét dạ dày (cimetidin, omeprazol); các loại thuốc giảm đau có codeine và morphine có thể ảnh hưởng và kiểm soát lượng hormon của cơ thể, ảnh hưởng ham muốn tình dục. 

Lưu ý: Khi dùng thuốc mà gặp các tác dụng bất lợi cho tình dục, chị em cần thông báo cho bác sĩ điều trị để có hướng khắc phục, không để thuốc ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình.
Click đọc ngay…

Thuốc chống co giật do sốt, những lưu ý cần biết

17:18 |
Sốt cao co giật là một bệnh hay gặp ở trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi (chủ yếu ở lứa tuổi từ 12 – 18 tháng), cơn co giật xuất hiện khi có đợt sốt cao, chiếm tỷ lệ khoảng 5%. Đại đa số bệnh khỏi hoàn toàn, tuy nhiên ở một số trường hợp cần phải dùng thuốc để khống chế cơn co giật và tránh những tổn hại về não do sốt cao co giật gây nên. 

Sốt co giật có phải là bệnh động kinh? Sốt cao co giật là cơn giật xuất hiện khi có đợt sốt cao > 38oC (đo ở hậu môn), do nhiễm khuẩn hoặc virut nhưng không có tổn thương ở não cũng như không có rối loạn chuyển hóa. Sốt co giật không đồng nghĩa với động kinh, do đó chúng ta cần phân biệt giữa sốt co giật và bệnh động kinh. 


Trong trường hợp sốt co giật, cơn giật chỉ xuất hiện khi có sốt cao, cơn thường ngắn, tạm thời và không có biến chứng, có thể có một cơn duy nhất hoặc vài cơn tùy từng trường hợp. Ngược lại, ở bệnh nhân động kinh, một số cơn đầu tiên xuất hiện khi sốt nhưng những cơn sau đó xuất hiện ngay cả khi không sốt. 

Dùng thuốc gì để dự phòng cơn co giật khi sốt cao? 

Khi trẻ bị sốt, cần kiểm soát chặt chẽ để thân nhiệt không vượt quá 37,5oC. Dù chưa có bằng chứng để nói dùng thuốc hạ sốt để phòng được cơn co giật, nhưng điều quan trọng của thuốc hạ sốt là có thể làm giảm bớt những tổn thương do sốt cao gây ra. 

Mặc dù co giật do sốt tái phát không nhiều nhưng khi tái phát cơn thứ hai thì nguy cơ các cơn tiếp theo có thể xảy ra, vì thế cần theo dõi và đề phòng cơn tái phát. Trẻ càng nhỏ càng dễ tái phát, tiền sử gia đình có sốt cao co giật, sốt xảy ra ngắn đã co giật hay sốt chưa cao đã co giật. 

Ở những trẻ đã có bệnh động kinh đang điều trị, sốt cũng là một yếu tố làm cơn giật tái diễn, do đó ngoài việc tránh cho trẻ không bị sốt thì cha mẹ cần cho trẻ dùng thuốc kháng động kinh theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc. Có thể dùng cho trẻ thuốc hạ sốt paracetamol và aspirin xen kẽ nhau với liều phù hợp lứa tuổi, mặt khác cần điều trị nguyên nhân gây sốt. 

Trên thực tế, việc kiểm soát chặt chẽ thân nhiệt không dễ dàng vì nhiệt độ có thể tăng lên rất nhanh. Do đó, trong một số trường hợp nếu trẻ xuất hiện hai hay nhiều cơn co giật khi sốt cao, có thể cho trẻ uống thuốc chống co giật trong thời gian từ 18 - 24 tháng. Thuốc hay được sử dụng là: valproate de sodium (depakine) hoặc phenobarbital (gardenal). 

Những lưu ý khi dùng thuốc 

Paracetamol: Được chỉ định dùng rộng rãi khi có các triệu chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa. Dù không độc với liều điều trị, nhưng paracetamol dùng liều cao, dài ngày lại rất nguy hiểm cho chức năng gan. Đặc biệt, nếu dùng thuốc kết hợp với một số thuốc chống co giật như phenytoin, barbiturat hoặc carbamazepin thì có thể làm tăng tính độc hại của thuốc lên gan. 

Không được dùng paracetamol quá 10 ngày ở người lớn hoặc quá 5 ngày ở trẻ em (trừ khi có chỉ định của bác sĩ). Để giảm nguy cơ quá liều, không nên cho trẻ em dùng quá 5 liều/24 giờ và phải tuân thủ liều dùng chặt chẽ theo cân nặng hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ. 


Aspirin: là một dẫn xuất của acid salicylic, thuộc nhóm thuốc chống viên non steroid. Thuốc cũng có tác dụng giảm đau, hạ sốt và chống viêm. Tuy nhiên, thuốc có tác dụng không mong muốn phổ biến trên hệ tiêu hóa, thần kinh và cơ chế đông máu. 

Trên hệ tiêu hóa, thuốc gây buồn nôn, khó tiêu, khó chịu vùng thượng vị, ợ nóng và thậm chí là loét dạ dày - ruột. Còn trên hệ thần kinh trung ương, thuốc gây mệt mỏi, yếu cơ. Thuốc gây khó cầm máu, chảy máu ẩn, thời gian chảy máu kéo dài dẫn đến thiếu máu. Ngoài ra, thuốc còn gây độc trên cả gan và thận. 

Tuy nhiên, các tác dụng phụ này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian sử dụng. Do đó cần tuân thủ chặt chẽ theo chỉ định của bác sĩ, đồng thời cần thông báo cho bác sĩ biết các loại thuốc đang dùng để tránh tương tác thuốc. Đối với trẻ em, khi dùng aspirin đã gây ra một số trường hợp hội chứng Reye, nên thuốc chỉ được sử dụng ở một số trường hợp đặc biệt. 

Valproate de sodium (depakine): là một loại thuốc chống động kinh, có tác dụng chủ yếu trên hệ thống thần kinh trung ương. Tuy nhiên, thuốc cũng được chỉ định trong cơn co giật do sốt cao ở trẻ em, đặc biệt là ở trẻ có nguy cơ tái phát cao và đã có ít nhất một cơn co giật. 

Các tác dụng không mong muốn khác như buồn ngủ, lú lẫn (hiếm gặp), rối loạn tiêu hóa gặp trong giai đoạn đầu của điều trị (hạn chế bằng tăng liều dần); tăng cân do ăn ngon miệng; giảm tiểu cầu (mức độ nhẹ); tăng nhẹ men gan; dị ứng da (hiếm); viêm gan hủy hoại tế bào gan rất nặng nhưng không liên quan đến liều lượng, thường xuất hiện trong 6 tháng đầu của điều trị, hay gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi dùng đa trị liệu (phối hợp nhiều loại thuốc). 

Thuốc đặc biệt gây độc cho gan nên chống chỉ định với các trường hợp có viêm gan cấp hoặc mạn; tiền sử gia đình có mắc viêm gan mạn (nhất là viêm gan do thuốc). Trong đa số trường hợp, các tổn thương gan thường gặp trong vòng 6 tháng đầu điều trị. Do vậy, trong thời gian này, cần theo dõi chức năng gan định kỳ hoặc khi có các dấu hiệu như mệt nhọc, chán ăn, ủ rũ, nôn mửa, đau bụng... Cần uống trước bữa ăn, uống vào giờ nhất định, tránh quên hoặc bỏ thuốc đột ngột. 

Phenobarbital (gardenal): là thuốc chống co giật, an thần và gây ngủ thuộc nhóm barbiturate. Thuốc cũng được chỉ định để phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ. Tác dụng không mong muốn bao gồm ngủ gà, rối loạn chức năng nhận thức, kích động ở trẻ em, còi xương và nhuyễn xương (do thoái dáng vitamin D); nhiễm độc da. 


Click đọc ngay…

Lộ tuyến cổ tử cung là gì?

15:53 |
Trong sổ khám chữa phụ khoa của tôi có ghi "lộ tuyến cổ tử cung". Vậy lộ tuyến cổ tử cung là gì? Nên xử lý bằng biện pháp nào? Dùng cách đốt có ảnh hưởng đến chuyện sinh nở sau này không?". 

Bác sĩ trả lời: 

Lộ tuyến (hay lộn tuyến) là các tổn thương ở cổ tử cung do các tế bào tuyến nằm trong ống cổ tử cung phát triển ra ngoài, xâm lấn mặt ngoài của cổ tử cung. Do các tế bào tuyến lộ ra ngoài vẫn tiết dịch như khi ở trong cổ tử cung nên bệnh nhân thường có hiện tượng tăng tiết dịch trong âm đạo, dễ dẫn đến viêm nhiễm (khi đó gọi là lộ tuyến viêm). 


Nguyên nhân gây lộ tuyến chưa được biết rõ, nhưng bệnh thường gặp hơn ở những phụ nữ đã sinh nở, trong thời kỳ buồng trứng còn hoạt động mạnh. Vì thế, ở người đã mãn kinh, lộ tuyến thường không tồn tại nữa. Đôi khi bệnh cũng xuất hiện ở trẻ em (bẩm sinh). 

Bản thân lộ tuyến là một tổn thương lành tính. Nhưng trong quá trình chúng xâm lấn ra, các tế bào lát bên ngoài cổ tử cung sẽ phản ứng tăng sinh nhằm đẩy lùi sự xâm lấn, có khi làm xuất hiện những tổn thương bị nghi ngờ là có thể dẫn đến ung thư. 

Nếu lộ tuyến kèm theo viêm nhiễm thì phải dùng thuốc điều trị chống viêm. Tuy vậy, thuốc chống viêm không chữa khỏi lộ tuyến. Muốn chữa hết lộ tuyến thì phải dùng các biện pháp diệt tuyến (nghĩa là phải đốt chúng bằng điện, lazer, áp lạnh hay bằng hóa chất). 

Việc đốt tuyến cũng chỉ được thực hiện sau khi đã chữa khỏi viêm. Trước khi đốt phải soi cổ tử cung hoặc làm phiến đồ âm đạo để phát hiện những bất thường của tế bào cổ tử cung. 

Khi đốt diệt tuyến ở cổ tử cung, nếu đốt quá sâu, cổ tử cung sẽ có sẹo xơ cứng, lỗ cổ tử cung bị chít hẹp, gây ứ đọng máu kinh, đau và có thể cản trở sự thụ thai. Đến khi chuyển dạ đẻ, sẹo xơ cứng ở cổ tử cung sau đốt có thể làm tử cung khó mở để đẩy thai ra ngoài. 

Lộ tuyến cổ tử cung (nhất là lộ tuyến viêm) có thể hạn chế thụ thai, gây vô sinh. Tuy nhiên nhiều trường hợp vô sinh kèm theo lộ tuyến đã có thai được sau khi đốt điện. 


BS Phó Đức Nhuận, 
Khoa Học & Đời Sống

Xem thêm các bài liên quan:

>>> Viêm lộ tuyến cổ tử cung có gây ung thư tử cung

>>> Điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung bằng đốt điện có hiệu quả?


Click đọc ngay…

Điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung bằng đốt điện có hiệu quả?

15:11 |
Tôi năm nay 28 tuổi, đã có 1 con. Tôi bị viêm lộ tuyến cổ tử cung, đã đặt thuốc âm đạo nhiều lần nhưng không khỏi. Tôi nghe nói bệnh này có thể điều trị bằng đốt điện, nhưng liệu có ảnh hưởng đến sinh đẻ lần tiếp không. Xin bác sĩ tư vấn cách điều trị? 

Hoàng Thị Lan Anh (hoang lan@gmail.com) 
Bác sĩ trả lời: 

Viêm đường sinh dục nữ là bệnh khá phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Viêm âm đạo chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là viêm lộ tuyến cổ tử cung (CTC), viêm cổ tử cung, viêm âm hộ. Các tổn thương lành tính ở CTC có thể tiến triển thành những tổn thương tiền ung thư và ung thư. Do vậy, điều trị sớm và triệt để các tổn thương lành tính CTC là biện pháp phòng chống ung thư CTC. 

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị khác nhau, trong đó phương pháp đốt điện CTC là một phương pháp khá đơn giản, rẻ tiền và có thể áp dụng dễ dàng ở mọi cơ sở y tế. Thời điểm đốt điện là sau khi đặt thuốc chống viêm tại chỗ 5 ngày và sạch kinh được 2 - 5 ngày. Sau đốt diệt tuyến, người bệnh kiêng quan hệ tình dục ít nhất trong 4 tuần. 

Kết quả điều trị lộ tuyến cổ tử cung liên quan đến đường kính tổn thương. Những tổn thương có đường kính nhỏ hơn 20mm điều trị khỏi hoàn toàn 100%, còn các tổn thương có đường kính từ 20 - 25mm và lớn hơn 25mm thì kết quả kém hơn. Tuy nhiên, sau điều trị diệt tuyến thường ra dịch lẫn máu âm đạo vài ngày, sau đó sẽ hết. 

Đốt điện là phương pháp đơn giản không gây biến chứng chít hẹp lỗ CTC, không gây đau và ra máu khi giao hợp. Thậm chí đốt điện điều trị lộ tuyến cũng có tác dụng trong điều trị vô sinh nguyên nhân do viêm lộ tuyến. Vì vậy, bạn nên đến khám lại tại các phòng khám phụ khoa của các bệnh viện để được điều trị dứt điểm, tránh những tổn thương ung thư CTC sau này. 


BS. Vũ Hồng Ngọc
Click đọc ngay…

Nhận biết bệnh liên quan đến nổi ban da

11:10 |
Thủy đậu, tay-chân-miệng, sốt phát ban Rubella, sởi đều xuất hiện những nốt đỏ, nhỏ trên da thường gọi chung là ban nên dễ nhầm lẫn, dẫn đến xử trí sai lệch. Vì vậy nhận biết đúng các loại bệnh giúp quá trình điều trị chính xác và đem lại hiệu quả ca.

Bệnh thủy đậu: nốt đỏ có bóng nước 

Từ lúc nhiễm bệnh cho đến lúc phát ban khoảng hai tuần, người bệnh sốt nhẹ, nhức đầu, chảy nước mũi, đau họng… Sau đó, tại vùng đầu xuất hiện các nốt đỏ rồi lan ra toàn thân. Mụn đỏ lớn dần, bên trong chứa nước căng mọng. Số lượng mụn có thể từ vài chục đến trên trăm. 


Ban mọc nhiều đợt, vì vậy có thể thấy trên một vùng da có nhiều nốt sẩn, mụn nước trong, mụn nước đục và cả mụn đóng vảy. Chỉ cần giữ gìn kỹ lưỡng trong vòng 7 - 10 ngày, các mụn này sẽ khô nước, teo dần rồi mất dạng. Tuy nhiên, nếu không giữ gìn vệ sinh, các mụn vỡ ra, nhiễm trùng, để lại sẹo xấu trên da hoặc phải nhập viện điều trị. 

Với thai phụ, thủy đậu có thể gây sẩy thai hoặc dị tật thai nhi. Bệnh thường “rộ” từ tháng Hai đến tháng Sáu, phòng bệnh bằng vắc-xin. 

Tay-chân-miệng: hồng ban có gờ 

Bệnh tay-chân-miệng thường gặp ở các bé dưới ba tuổi, triệu chứng ban dễ nhầm lẫn với thủy đậu. Hai ngày đầu mắc bệnh, bé sốt nhẹ, mệt mỏi, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày. Từ ngày thứ ba đến ngày thứ mười, bé có các triệu chứng đặc trưng của bệnh: loét miệng (vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng khiến bé bỏ ăn), hồng ban có gờ ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. 

Khi mắc bệnh tay-chân-miệng, bé biếng ăn. Phụ huynh cần cho bé ăn nhiều bữa, thức ăn cần mềm, lỏng như: xúp, sữa, sữa chua, phô mai... Sau khi ăn, cho bé súc miệng bằng nước muối sinh lý. Trong điều trị, bác sĩ sẽ cho bé dùng thêm sinh tố C, D, A để mau lành vết loét. 

Hồng ban tồn tại trong khoảng bảy ngày, sau đó “lặn”, có thể để lại vết thâm. Song, điều đáng ngại là bệnh tay-chân-miệng lại còn có những thể bệnh không phát ban, thường do nhiễm Enterovirut 71 và có thể gây nên những biến chứng: viêm não, suy tim, viêm phổi gây suy hô hấp... Vì vậy, khi thấy trẻ có những dấu hiệu: sốt, khó ngủ, giật mình lúc đang thức hay lúc bắt đầu thiu thiu ngủ, chới với, quấy khóc liên tục… nên đưa trẻ đến bệnh viện. 

Bệnh sởi: ban nổi dày đặc, kèm viêm kết mạc 

Bệnh sởi cũng gây sốt, phát ban nhưng còn có thêm những dấu hiệu để nhận biết như: ho có đờm, tiêu chảy... Điều dễ nhận dạng là đa số bé bị sởi đều đỏ hai mắt, sợ ánh sáng (viêm kết mạc mắt)… Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan dần ra hai bên má, cổ, ngực, bụng và cánh tay. Sau đó, ban lan nhanh ra lưng, xuống hông và chân. 

Chỉ trong thời gian hai đến ba ngày, ban lan ra toàn thân. Trường hợp nặng, ban dày đặc che kín toàn bộ bề mặt da. Khi ban xuất hiện, nhiệt độ cơ thể tăng, ban mọc đến chân thì nhiệt độ giảm. Khi ban “bay” sẽ để lại vết thâm trên da. 

Bệnh xảy ra quanh năm và lây truyền theo đường hô hấp, nên khả năng lây lan rất nhanh. Chích ngừa là cách phòng bệnh hiệu quả. Mũi đầu, chích cho bé trong khoảng từ 9 đến 11 tháng tuổi. Mũi thứ hai lúc bé 18 tháng tuổi. Phụ nữ có thai mắc bệnh sởi có thể bị sẩy thai, đẻ non. 


Sốt phát ban Rubella: nốt ban màu hồng mịn 

Sốt phát ban Rubella cũng giống các bệnh trên. Sau khi giảm sốt, những nốt ban màu hồng mịn bắt đầu từ mặt sẽ lan nhanh xuống bụng và tay chân. Ban lưu lại trên cơ thể trong khoảng từ ba đến năm ngày. Ban nổi nhẹ nhàng nên khi hết không để lại dấu vết như sởi. 

Đây là bệnh sốt phát ban lành tính, không gây chết người nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai, vì có thể gây dị tật bẩm sinh thai nhi. Phụ nữ cao tuổi mắc bệnh Rubella có thể bị biến chứng đau, viêm khớp. 

Bệnh xuất hiện mùa trước và sau Tết Nguyên đán. Bệnh này dễ bị nhầm với bệnh sởi vì cũng gây tiêu chảy nhẹ, mí mắt sưng… Nhưng bệnh sởi thường gây bệnh cho trẻ từ một tuổi trở lên, còn Rubella thì đủ mọi lứa tuổi. 

Đã có vắc-xin ngừa ba bệnh sởi - quai bị - Rubella cho cả trẻ em và người lớn. Mũi đầu chích khi bé tròn một tuổi, mũi thứ hai chích trong khoảng bốn-sáu tuổi. Phụ nữ chỉ nên mang thai sau khi chích ngừa ba tháng. Bác sĩ Đinh Tấn Phương - Trưởng khối Cấp cứu BV Nhi Đồng 1 TP.HCM hướng dẫn cách phòng các bệnh sốt phát ban nêu trên như sau: “Ăn uống hợp vệ sinh, rửa tay sạch và tránh tiếp xúc với người bệnh”. Cần chú trọng vệ sinh cá nhân, dùng riêng khăn lau mặt, ly, chén… 

Bệnh sởi, thủy đậu, Rubella lây qua đường hô hấp, vì thế trong mùa dịch nên vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý. Khi trong nhà có người bệnh, cần vệ sinh phòng, các đồ vật trong phòng bằng dung dịch sát khuẩn thông thường. Bệnh nhân cần nghỉ học, nghỉ làm cho đến khi hết ban, cơ thể khỏe mạnh, để không lây nhiễm cho cộng đồng.
Click đọc ngay…

U nang buồng trứng có cần cắt bỏ?

17:21 |
Cháu bị u nang buồng trứng phải, bác sĩ khuyên nên phẫu thuật, nhưng cháu sợ nếu phẫu thuật sẽ không sinh con được nữa? Xin bác sĩ cho cháu lời khuyên? 

Hoàng Thị Thu (Hải Dương) 
Bác sĩ trả lời:
 
U nang buồng trứng là bệnh thường gặp ở phụ nữ độ tuổi từ 14-55. U nang buồng trứng là hiện tượng một quả bóng nhỏ trong chứa đầy không khí hay chất dịch lỏng nằm ở một bên buồng trứng gây áp lực lên phần bụng dưới. 


95% trường hợp u nang buồng trứng là lành tính. Bệnh này thường gây trướng bụng, đau phần bụng dưới, đau theo chu kỳ; đau mỏi lưng, khó thở và khó cử động; đường tiết niệu bị co thắt; đau khi giao hợp; chảy máu dạ con do giảm lượng estrogen... 

U nang buồng trứng có thể gây vô sinh, sảy thai, đẻ non, khó đẻ. 

Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh u nang buồng trứng như: Sử dụng quá nhiều thực phẩm chứa hormon như các loại thịt và sữa có cho thêm hormon tăng trưởng; chế độ ăn uống không cân bằng, ít thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên; dùng quá nhiều thuốc tránh thai; gan bị nhiễm độc hoặc do làm việc quá sức; béo phì, stress. 

Điều trị u nang buồng trứng là phẫu thuật cắt bỏ u càng sớm càng tốt để tránh biến chứng. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân nên tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ. Rất nhiều bệnh nhân, sau khi phẫu thuật u nang buồng trứng vẫn có con bình thường. Cháu không nên lo lắng quá vì sẽ càng ảnh hưởng đến sức khoẻ. 


BS. Phương Thu
Click đọc ngay…

Phân của trẻ sơ sinh thế nào là bình thường?

15:07 |
Bé trai nhà em 4 tháng, cháu bú sữa mẹ hoàn toàn. Khoảng 1 tháng gần đây cháu đi ngoài ngày 3-4 lần, phân xì xoẹt, hoa cà hoa cải, có mùi chua và đôi khi còn có bọt. Như vậy có bình thường không ạ? Có men tiêu hóa nào cháu uống cho đỡ và nhanh lớn không ạ? Hiện cháu chỉ nặng có 6,7kg (lúc sinh cháu được 3,4 kg) như vậy có còi lắm không ạ? 

ly ngo (khanhly87lg@gmail.com) 
Bác sĩ trả lời:


Thường trẻ 6 tháng sẽ có cân nặng gấp đôi khi sinh (khi sinh bé nặng 3,4 kg thì 6 tháng bé sẽ nặng 6,8kg). Hiện bé nhà bạn mới 4 tháng cân nặng của bé đã tăng gần gấp đôi có nghĩa bé đang tăng trưởng tốt. Bé bú mẹ hoàn toàn là tốt, nên tiếp tục cho bú sữa mẹ, vì sữa mẹ có đầy đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa. 

Trong thư bạn nói khoảng 1 tháng nay bé đi ngoài ngày 3-4 lần, phân xì xoẹt... Thực tế cho thấy ở mỗi trẻ có tần số đi ngoài khác nhau, có trẻ 1 lần/ngày, có trẻ 3-4 lần (cần phân biệt với són phân mỗi lần trẻ ưởn người hay vặn mình) vẫn là trong giới hạn bình thường miễn là trẻ không sốt, bú bình thường, ngủ bình thường, vẫn tăng cân đều thì cha mẹ hoàn toàn yên tâm. 

Tuy nhiên thức ăn của bà mẹ cho con bú ăn vào được hấp thu qua ruột non vào máu và qua sữa mẹ. Một số trẻ bú sữa mẹ có thể bị dị ứng hoặc không dung nạp thức ăn của mẹ và hay gặp là cua, cá, lạc, sữa bò... Trẻ thường có biểu hiện đau bụng đi ngoài phân lỏng, mẹ nên ngừng thức ăn đó một thời gian cho đến khi trẻ 6 tháng tuổi, sau đó ăn từng ít một và theo dõi nếu trẻ đi tiêu phân bình thường thì bạn có thể tiếp tục ăn những thực phẩm này. Vì khi đó bộ máy tiêu hóa của trẻ hoàn thiện hơn có thể dung nạp thức ăn tốt hơn. 

Lời khuyên của tôi là bạn không nên dùng bất cứ loại thuốc gì khi không có sự chỉ định của bác sĩ (kể cả men tiêu hóa hay thuốc bổ). Điều quan trọng là, khi con có những dấu hiệu đường tiêu hóa hay bất cứ các dấu hiệu gì khác mà người mẹ cảm thấy không bình thường, bất an hãy đưa trẻ đi khám bác sĩ. Bác sĩ là người phân tích, tổng hợp các triệu chứng để đưa ra chẩn đoán trẻ bị bệnh hay chỉ là sinh lý bình thường, từ đó bác sĩ sẽ kê đơn thuốc phù hợp, tuyệt đối không tùy tiện cho trẻ dùng thuốc. 


BS. Trần Kim Anh
Theo sức khỏe đời sống
Click đọc ngay…

Ngâm rau sống bằng nước muối có đảm bảo an toàn?

20:58 |
Tôi được biết ăn rau sống thì các vitamin được bảo toàn nguyên vẹn, nhất là những loại rau có tinh dầu vừa là rau thơm vừa có tác dụng trị bệnh. Tuy nhiên gần đây theo dõi thấy người trồng rau phun quá nhiều thuốc sâu. Xin hỏi nếu ngâm rau bằng nước muối có loại bỏ được lượng thuốc sâu không? 

Đặng Trần Thành (Hà Nội) 

Bác sĩ trả lời:
 
Rau sống với đa dạng các loại rau gia vị cung cấp cho cơ thể một lượng vitamin A, C, E... chất khoáng và một số yếu tố vi lượng. Các vitamin trong rau sống được bảo toàn nguyên vẹn, ít bị hao hụt so với khi nấu chín. Ngoài ra, các loại rau thơm còn cung cấp một lượng kháng sinh thực vật giúp cơ thể tăng sức đề kháng với bệnh tật. 

Nhưng nếu rau sống không đảm bảo vệ sinh (tưới bón phân tươi, nguồn nước tưới không sạch, sử dụng thuốc trừ sâu chưa đúng qui định...) thì lại là món ăn mang theo mầm bệnh làm cho người ăn dễ bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, nhiễm giun sán hay nhiễm độc thuốc trừ sâu cấp tính và mạn tính. 

Để đảm bảo rau sạch, cần rửa sạch nhiều lần bằng nước sạch, tốt nhất là rửa trực tiếp từng lá dưới vòi nước chảy là biện pháp hiệu quả nhất để loại bỏ trứng giun, vi khuẩn gây bệnh và dư lượng hóa chất trừ sâu còn bám trên lá rau. 

Việc ngâm rau sống vào dung dịch thuốc tím loãng hoặc nước muối loãng đều không đảm bảo vệ sinh. Qua một số thí nghiệm cho thấy trong môi trường thuốc tím, nước muối loãng thì không có tác dụng gì với trứng giun và một số vi khuẩn gây bệnh. Lượng hóa chất bảo vệ thực vật giảm đi không đáng kể nếu không rửa lại nhiều lần. Một khi rau đã dư thuốc trừ sâu thì dù nấu chín vẫn bị ngộ độc chứ chẳng riêng ăn sống. Vì vậy, cần rửa nhiều nước và ngâm trước khi nấu, khi nấu lên mà có mùi lạ nên bỏ đi. 


Theo BS. Vũ Ngọc Anh 
Sức khoẻ & Đời sống
Click đọc ngay…

Thuốc điều trị gây hôi miệng

10:53 |
Thông thường, khi sử dụng dược phẩm và phát hiện rằng hơi thở của mình có mùi lạ thì người sử dụng lại nghĩ rằng họ đã có vấn đề gì đó ở trong mũi, miệng, cuống họng, răng... chứ không biết rằng hơi thở “lạ” là do chính dược phẩm mà họ đang sử dụng gây ra. 

Thuốc nào cũng có hai mặt tác dụng. Một mặt có tác dụng trị liệu thì mặt kia lại có những tác dụng phụ. Trong những tác dụng phụ thì có một “món” rất dễ “mích lòng” vì không những gây khó chịu cho mình mà còn gây khó chịu cho người. Đó là tác dụng phụ gây ra hơi thở... dễ xa nhau khi sử dụng một số loại dược phẩm. 


Những “thủ phạm” gây hôi miệng 

Nguyên nhân gây hôi miệng phổ biến nhất khi sử dụng dược phẩm chính là do dược phẩm làm khô miệng (xerostomia). Có rất nhiều dược phẩm có tác dụng phụ làm giảm sự tiết nước bọt gây ra khô miệng. Do nước bọt có tính acid nhẹ nên có thể giảm đi số lượng các loại vi khuẩn gây hôi miệng. Khi thiếu nước bọt cũng như “vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”, vi khuẩn gây hôi miệng thừa nước đục thả câu, quậy tới bến. Nước miếng cũng có tác dụng ôxy hóa miệng, làm cho hơi thở được trong lành một cách tự nhiên. 

Những người thường xuyên hút thuốc lá cũng bị chứng khô miệng. Những dược phẩm thường gây khô miệng nhất là các thuốc kháng histamine, vì loại dược phẩm này sẽ “cấm vận” một số receptor tới não. Một số chế phẩm không cần toa bác sĩ có chứa cồn và hàm lượng cao đường sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở. 

Chất cồn làm khô miệng, chất đường làm thức ăn nuôi vi khuẩn và làm hơi thở càng có mùi khó chịu hơn. Thật là không may, trong khi uống rượu nhiều gây khô miệng và hôi miệng thì các loại thuốc trị nghiện rượu cũng sẽ gây hôi miệng, chẳng hạn một loại thuốc chống co giật là paraldehyde được dùng để trị nghiện rượu sẽ gây hôi miệng, hoặc là disulfiram cũng gây hơi thở có mùi khó chịu vì trong dược phẩm này chứa nhiều sulfur. 

Một vài loại thuốc không cần toa bác sĩ khác dùng trong việc trị chứng trào ngược acid có chứa dimethyl sulfate do có chứa sulfur nên những loại dược phẩm có chứa dimethyl sulphate sẵn sàng gây hôi miệng cho người dùng. 

Những loại dược phẩm khác gây khô miệng dẫn tới hôi miệng bao gồm các thuốc kháng trầm cảm, thuốc trị cao huyết áp, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau loại narcotics, thuốc lợi tiểu, thuốc chống lo âu. Với một “rừng” dược phẩm như hiện nay, từ loại thuốc phải kê toa tới các loại thuốc không cần kê toa, dược thảo... sẽ thật khó khăn cho người sử dụng nắm được các tác dụng phụ, vì vậy giải pháp tốt nhất chính là bác sĩ và dược sĩ - là những người sẽ tư vấn cho người sử dụng dược phẩm một cách an toàn và hiệu quả. 

Những thuốc “kinh điển” gây hôi miệng 

Triamterene: Đây là một loại thuốc lợi tiểu dùng trị cao huyết áp và phù thũng, thuốc này có thể làm nước tiểu chuyển sang màu xanh nhạt. 

Paraldehyde: Trị động kinh. Thông thường gan sẽ “rửa ráy” một phần paraldehyde cho máu, tuy nhiên những paraldehyde thoát khỏi gan (khoảng 30%) sẽ ngao du cơ thể rồi “di dân” tới phổi và được bài tiết qua phổi, làm cho bệnh nhân sử dụng loại dược phẩm này có một hơi thở cực kỳ... dễ xa nhau. 

Disulfiram: Trị nghiện rượu nhưng lại gây khô miệng, hôi miệng. 

Antihistamines: Các thuốc kháng histamines sẽ làm giảm sự tiết nước bọt gây khô miệng. 

Nếu bạn sử dụng bất cứ dược phẩm gây khô miệng, tốt nhất là nên giữ miệng đủ độ ướt, chẳng hạn uống nước thường xuyên và tăng lượng nước so với lúc chưa dùng dược phẩm, nhai kẹo cao su không đường nhằm kích thích sự tiết nước bọt, tránh khô miệng. 


Theo DS Nguyễn Bá Huy Cường 
Pháp luật TPHCM
Click đọc ngay…

Nguy hại do tiêm Vitamin B12 để giảm cân

15:23 |
Tôi 25 tuổi, nữ giới, có thân hình quá khổ (cao 1,56m, nặng 72kg). Tôi nghe nói có phương pháp giảm cân bằng cách tiêm vitamin B12, chỉ cần tiêm chừng 10 mũi, mỗi một mũi tiêm 100mcg thì thân hình sẽ thon gọn. Điều đó có đúng không, tác dụng giảm cân của vitamin B12 có hiệu quả và an toàn không? Tôi xin cảm ơn! 

Vũ Thị Th. (Bắc Ninh) 
Bác sĩ trả lời:


Trong cơ thể, vitamin B12 (B12) có vai trò quan trọng là các coenzym đồng vận chuyển, tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng của cơ thể, đặc biệt là hai quá trình chuyển hóa acid folic và tổng hợp ADN nên rất cần cho sự sinh sản của hồng cầu chuyển hóa lipid và hoạt động bình thường của hệ thần kinh. 

Về công dụng giảm cân của B12, trước tiên cần hiểu kỹ vai trò của B12 và các vitamin nhóm B nói chung. Các vitamin nhóm B giúp cơ thể chuyển đổi carbohydrate (glucid) thành glucose. Glucose được đốt để tạo ra năng lượng cho hoạt động của cơ thể. Các vitamin B cũng cần thiết cho sự phân hủy của chất béo và protein trong cơ thể. 

Do tác dụng của B12 trong việc tăng cường đốt cháy glucid và trong phân hủy chất béo nên theo lý thuyết, người ta đã sử dụng B12 với mục đích giảm cân. Thực tế đã có nhiều nơi trên thế giới sử dụng biện pháp này. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả thực sự của vitamin B12 trong việc giảm cân. 

Trong thư bạn không nói rõ cách bao lâu tiêm một mũi B12 hàm lượng 100mcg. Nhu cầu B12 hàng ngày theo RDA (khẩu phần dinh dưỡng khuyến khích) là 2mcg cho nam và nữ trưởng thành. Phụ nữ có thai và cho con bú thì 2,2mcg. Vì vậy, việc đưa vào cơ thể mỗi lần một lượng lớn B12 như vậy là quá liều và rất dễ dẫn đến thừa B12 trong cơ thể. 

Các vitamin nói chung và B12 không phải là vô hại, nếu bổ sung đúng đối tượng, đúng liều lượng thì sẽ là thuốc bổ, nhưng nếu dùng bừa bãi quá liều B12 sẽ dẫn đến phản ứng có hại, những biến chứng khôn lường như: thay đổi tâm trạng, hoảng loạn, đường huyết không ổn định, đau khớp, chuột rút... 

Việc tiêm quá liều B12 còn dẫn đến các biến chứng khác như: sốc phản vệ, sốt, các triệu chứng xuất hiện ngoài da như: mụn trứng cá, mày đay, ngứa, đỏ da... Với những người da nhạy cảm, dùng quá nhiều B12 sẽ sinh ra mụn mủ. 

Một số trường hợp có thể tăng nguy cơ hình thành u ác tính do B12 làm tăng trưởng các mô có tốc độ sinh trưởng cao, nên có nguy cơ làm u tiến triển. Trên thực tế, việc sử dụng B12 cho người bệnh trong trường hợp thật cần thiết, nhất là ở dạng tiêm cần phải được bác sĩ theo dõi. Do B12 cũng có nguy cơ gây dị ứng, nên cần thận trọng với người có tiền sử dị ứng như eczema, hen, viêm da cơ địa. 

Với những phân tích trên đây, lời khuyên tôi dành cho bạn là không tiêm B12 cho mục đích giảm cân, do không có cơ sở về tính hiệu quả và an toàn. 

DS. Trung Đức
Click đọc ngay…

Rụng tóc nhiều do đâu?

10:35 |
Em năm nay 25 tuổi, gần đây tóc em bị rụng rất nhiều, mặc dù em đã thay dầu gội bằng nước bồ kết và là sả, lá bưởi nhưng không cải thiện. Xin bác sĩ giúp em cách gì để tóc không rụng? 
 Phạm Thị Yến (yenpham@gmail.com) 

Bác sĩ trả lời:


Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tóc như yếu tố nuôi dưỡng, thần kinh, mạch máu, hormon... Sự nuôi dưỡng tóc kém sẽ dẫn đến rụng tóc nhiều. 

Một số vitamin rất cần thiết cho sự sinh trưởng của tóc gồm vitamin A, vitamin C, vitamin nhóm B nhất là B5 (acid pantothenic), biotin (vitamin H). 

Yếu tố thần kinh được nhấn mạnh bởi những quan sát lâm sàng có rụng tóc đi kèm với rối loạn thần kinh trung ương hoặc hệ thần kinh thực vật và các tổn thương thần kinh khác như bệnh nhân bị stress nặng. 

Các hormon tuyến giáp cũng có tác dụng lên chuyển hóa của nang lông. Điều này được thể hiện rõ trong các trường hợp thiểu năng tuyến giáp hoặc cắt bỏ tuyến giáp thì tóc, lông mày, lông nách, lông mu mọc thưa, khô và gãy. 

Một số tác giả coi các ổ nhiễm khuẩn đặc biệt ở răng, amiđan, tai như một yếu tố ngòi nổ cho rụng tóc. Mục đích điều trị là kích thích miễn dịch, điều hòa miễn dịch tại chỗ và toàn thân, kích thích mọc tóc và ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ của bệnh (bổ sung các yếu tố vi lượng, chống ổ nhiễm khuẩn, tránh stress...). 

Nói chung, việc điều trị hiệu quả dựa vào nguyên nhân gây rụng tóc. Ngoài ra, cần có chế độ dinh dưỡng tốt, đủ vitamin và khoáng chất, chú ý thiếu kẽm cũng là nguyên nhân gây rụng tóc nên cần chú ý bổ sung kẽm từ các thực phẩm giàu kẽm như: trai, sò, hến, hàu... 

BS.Vũ Lan Anh
Click đọc ngay…

Thận trọng tăng cân do tác dụng phụ của thuốc

14:37 |
Có khá nhiều thuốc gây tác dụng phụ làm tăng cân. Điều nguy hại là nhiều người đã và đang lạm dụng nó để làm mập. 

Lâu nay ở xứ ta, một số phụ nữ và phụ huynh thường nghe lời đồn đại nên tự ý mua “thuốc làm mập” về dùng hoặc cho con em uống. Thậm chí, một số thầy thuốc còn cố tình chỉ định thuốc loại này dù biết lợi bất cập hại. 

Thuốc chống viêm glucocorticoid 


“Thuốc làm mập” đầu tiên phải kể đến là thuốc chống viêm glucocorticoid, thường được gọi tắt là corticoid. Thuốc corticoid gồm nhiều loại: dexamethason (thường gọi nôm na là “đề xa” hay thuốc “hột dưa”), prednison, prednisolon... 

Về phương diện chữa bệnh, corticoid là thuốc rất quý dùng để chống viêm, trị các bệnh xương khớp, các bệnh tự miễn, các bệnh dị ứng ngoài da và hệ hô hấp (biểu hiện là hen suyễn nặng), bệnh suy tuyến thượng thận; không bao giờ được sử dụng cho mục đích làm tăng cân. 

Do cơ thể có vẻ như mập ra và tăng trọng khi uống thuốc này liên tục, kéo dài mà một số người cứ tưởng là tốt dù thực chất, đây là tác dụng phụ nguy hiểm của thuốc. 

Corticoid có tác dụng giữ nước và chất khoáng natri trong cơ thể, gây rối loạn chuyển hóa lipid và làm đọng mỡ lại ở trên mặt, cổ và lưng nên người dùng thuốc lâu ngày sẽ béo phì, mặt tròn như mặt trăng nhưng thật ra cơ thể lại bị teo cơ (đây là các biểu hiện trong hội chứng có tên là Cushing). 

Corticoid làm tiết nhiều dịch vị ở dạ dày, gây cảm giác đói, ăn ngon nhưng có thể làm loét dạ dày, gây xuất huyết tiêu hóa... Riêng đối với trẻ em, việc dùng corticoid bừa bãi có thể gây ra các tổn thương rất nguy hại và không hồi phục. 

Thuốc trị dị ứng cyproheptadin 

Thuốc thứ hai được dùng làm tăng cân là cyproheptadin (biệt dược peritol, periactine…). Đây là thuốc kháng histamin trị dị ứng nhưng lại có thêm tác dụng kích thích sự thèm ăn. Như vậy, thuốc này không làm tăng trọng một cách trực tiếp do giữ nước, natri lại trong cơ thể và gây phù như corticoid mà có tác dụng gián tiếp trị chứng chán ăn, làm cho người dùng ăn nhiều hơn (đương nhiên phải ăn uống đầy đủ chất) để tăng trọng. 

Khi đang dùng thuốc sẽ kích thích ăn ngon miệng nhưng nếu ngưng thì sẽ chán ăn trở lại. Thuốc này có tác dụng phụ gây buồn ngủ, không được dùng (tức chống chỉ định) đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em dưới 2 tuổi và người cao tuổi suy nhược. Đối với trẻ em, thuốc có thể gây cơn co giật - gọi là tác dụng phụ thần kinh ngoại tháp. 

Thuốc cũng không được dùng ở những người bị tăng nhãn áp, u tuyến tiền liệt, loét tá tràng. Do lợi bất cập hại như vậy nên nhiều nước đã không còn chỉ định dùng cyproheptadin trị chứng chán ăn, trong khi ở ta vẫn còn dùng “tăng cân làm mập” cho phụ nữ và trẻ con. 

Một số thuốc khác cũng có tác dụng phụ làm tăng cân

Ngoài 2 loại kể trên, nhiều thuốc khác cũng có tác dụng làm tăng cân. Cơ chế làm tăng cân của các thuốc này không thật rõ ràng. Có thể do chúng tác động trên trung tâm kiểm soát đói - no ở hệ thần kinh gây cảm giác không no khi ăn hoặc làm tiêu hóa nhanh thức ăn gây mau đói hay làm rối loạn sự chuyển hóa gây sự tích lũy mỡ... 

Tác dụng làm tăng cân của thuốc có thể gây các phản ứng có hại, như: làm rối loạn lipid huyết (tăng mỡ trong máu), tăng huyết áp, tăng nguy cơ bị bệnh đái tháo đường type 2... Có thể kể các thuốc làm tăng cân như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng (amitriptylin, nortriptylin...), thuốc chống loạn thần (olanzapin, risperidon), thuốc trị tăng huyết áp (nhất là thuốc chẹn bêta như atenolol, metoprolol...), thuốc trị động kinh (axít valproic, lithium...), thuốc trị đái tháo đường type 2 (nhất là nhóm sulfonylurea như glyburid, glipizid...). 

Cần lưu ý rằng tác dụng gây tăng cân do thuốc không phải xảy ra cho mọi người (có người không bị tác dụng không mong muốn này). Khi người bệnh bị tăng cân do thuốc, không nên vội bỏ thuốc (vì có khi bệnh tái phát trở nên rất nặng) mà nên báo cho bác sĩ biết để có hướng xử trí. Đã có lời khuyên rằng tập thể dục nhiều hơn có thể khắc phục tình trạng tăng cân do thuốc. 

Xin nhắc lại, cần hết sức tránh lạm dụng tác dụng tăng cân của thuốc để làm mập. Corticoid còn có các tác dụng phụ nguy hiểm khác như làm loãng xương, tăng huyết áp, gây huyết khối làm nghẽn mạch, làm giảm sự đề kháng của cơ thể nên dễ dẫn đến nhiễm trùng. 


PGS-TS-DS Nguyễn Hữu Đức
Theo người lao động
Click đọc ngay…

Có nên dùng thuốc isotretinoine trị mụn kéo dài

10:11 |
Xin chào dược sĩ, mình 24 tuổi, nam, dùng isotretinoine để trị mụn, mỗi ngày 10mg. Mình đã uống được 6 tháng và bây giờ mụn đã hết hẳn. Bác sỹ tiếp tục cho mình uống thêm nhưng liệu mùa này (có nắng nhiều), mình có nên uống tiếp hay không? Vì mình nghe nói phải dừng uống sau liệu trình 6 tháng? 

Bác sĩ trả lời:  


Isotretionin là chất có tác dụng làm giảm tiết bã nhờn, dùng để điều trị trứng cá, trứng cá nặng, sẹo, trứng cá không đáp ứng với thuốc diệt khuẩn toàn thân, dùng ngoài hay trứng cá do vấn đề tâm lý. Thuốc chỉ được sử dụng khi được kê đơn, có kiểm soát và có tư vấn của bác sĩ da liễu, không được tự ý dùng thuốc. 

Liệu trình điều trị thông thường là ít nhất 16 tuần, cũng có tài liệu là 15-20 tuần, có thể dừng điều trị sớm hơn nếu tổng lượng mụn giảm trên 70%. Lặp lại điều trị thường không được yêu cầu , tuy nhiên có thể lặp lại điều trị nếu như tình trạng mụn không được cải thiện và chắc chắn rằng liệu trình thứ hai này lợi ích vượt trội hơn nguy cơ. 

Giữa hai lần điều trị nên cách nhau ít nhất hai tháng để đánh giá tiến triển cũng như sự cần thiết của việc điều trị thêm bởi vì hiệu quả giảm trứng cá có thể tiếp tục xảy ra sau khi dừng thuốc. Do vậy việc bạn đã điều trị sáu tháng và hết mụn mà bác sĩ vẫn cho dùng tiếp một đợt điều trị nữa nên được thảo luận lại về sự cần thiết của đợt điều trị này. 

Nên chú ý các tác dụng không mong muốn sau có thể gặp khi sử dụng thuốc: trên da như da khô, viêm da, mỏng da, ban đỏ, ngứa, mỏng biểu bì, chấn thương có thể gây bỏng rộp, khô môi đôi khi viêm môi. 

Trên mắt: khô mắt, viêm bờ mi và viêm kết mạc, có thể đột ngột giảm tầm nhìn vào buổi tối, ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc. Trên chuyển hóa như tăng triglycerid, cholesterol, tăng men gan. Ngoài ra, thuốc còn có thể gây thiếu máu, khô miệng họng, đau đầu, đau khớp, thay đổi tâm trạng. Đặc biệt thuốc có nguy cơ gây dị tật thai nhi nên phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng hết sức thận trọng. 

Ở đây bạn lo ngại việc dùng thuốc vào mùa này có nắng nhiều. Nó liên quan chính tới tác dụng không mong muốn trên da. Về vấn đề này bạn nên chú ý: tránh nhổ lông, dùng sáp chống rụng tóc vì có thể làm ảnh hưởng tới biểu bì, tránh điều trị bằng laser trong quá trình dúng thuốc và 5-6 tháng sau điều trị do có nguy cơ để lại sẹo, tránh phơi nhiễm với tia UV bao gồm cả ánh nắng mặt trời, nên sử dụng hỗ trợ che chắn, bôi kem chống nắng có SPF ít nhất bằng 15, sử dụng chất làm mềm da trước khi bắt đầu điều trị, các thuốc bôi ngoài da làm bong tróc keratin và tróc da ko nên sử dụng. 

Đã có những báo cáo về phản ứng da nghiêm trọng như hội chứng Steven Johnson(hoại tử hốc tự nhiên trong cơ thể) do đó dùng thuốc mà có dấu hiệu nghiêm trọng bất thường trên da cần dừng ngay. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần chú ý: tránh cho máu trong quá trình điều trị và một tháng sau điều trị, thận trọng với người có tiền sử trầm cảm, kiểm soát tất cả các bệnh nhân trầm cảm, đo chức năng gan và thông số lipid máu trước điều trị, một tháng sau khi bắt đầu và sau mỗi ba tháng vì khi giảm liều hoặc dừng không dùng thuốc nồng độ men gan và lipid máu vẫn có thể tăng.


Đỗ Thị Thanh Hiền - DS Võ Thị Hà
Click đọc ngay…

Đồ nhựa thay thế BPA thành BPS vẫn độc như thường

09:40 |
Do đồ nhựa chứa BPA độc, người ta tạo ra các loại đồ nhựa không chứa BPA (BPA - Free). Khá nhiều sản phẩm thay BPA bằng BPS nhưng các nghiên cứu mới lại thấy BPS vẫn độc không kém BPA.

Tính độc hại của BPA 

Cấu trúc BPA gồm hai nhân phenol, hai nhóm metyl nối với nhau qua cầu nối carbonhydro (CH2). Được làm nguyên liệu (năm 1957) để sản xuất đồ nhựa, đặc biệt là nhựa polycarbonate để làm kính mát, bao bì thực phẩm, dụng cụ ăn uống trẻ em, chai lọ tái chế, làm lớp lót bên trong những lon kim loại, dùng trong các loại giấy ghi hóa đơn chịu nhiệt.


Từ nhựa, BPA có thể thôi vào thực phẩm khi nóng. Tổ chức môi trường California (năm 2007) cho biết: đun nóng bình sữa nhựa(5 nhãn hiệu thông dụng), thấy có tiết ra một lượng BPA khá cao.

Taman Galloway và cộng sự trong cuộc điều tra “Dinh dưỡng và Sức khỏe quốc gia Mỹ” (năm 2005 - 2006) đã kiểm tra 1.483 người lớn, thấy 25% có BPA trong nước tiểu ở mức cao. Đã có các nghiên cứu về mối liên quan giữa phơi nhiễm BPA với một số bệnh:

BPA độc cho hệ sinh dục và não: một nhóm 12 chuyên gia thực hiện các nghiên cứu theo “Chương trình phòng chống độc quốc gia của Mỹ” báo cáo: BPA làm cho hệ sinh dục, não của động vật sơ sinh phát triển bất thường; chỉ cần một liều nhỏ BPA cũng có thể gây ảnh hưởng tương tự lên bào thai người và trẻ nhỏ; tuy nhiên, báo cáo không khẳng định lượng BPA là bao nhiêu sẽ gây ra ảnh hưởng này

BPA tạo ra bất thường về tế bào: theo GS. VandeWoort trường Đại học California (2012): những đứa trẻ nhiễm BPA khi còn ở trong bào thai mẹ, lúc lớn lên các tế bào trứng có nhiều nhiễm sắc thể, dẫn đến sinh con gặp hội chứng Down hay dễ bị sảy thai. Bào thai nhiễm BPA sẽ sinh ra các nang (các cấu trúc bao quanh trứng khi phát triển) khiến trứng chết trước khi trưởng thành.

Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy BPA có khả năng kích thích sự nhân lên của tế bào ung thư vú.

BPA với tình trạng vô sinh: một nghiên cứu đăng trên tạp chí Fertility and Sterility cho biết: so sánh 130 công nhân nam làm việc ở một nhà máy Trung Quốc thường xuyên phơi nhiễm với BPA với 88 công nhân không bị phơi nhiễm chất này thì số lượng tinh trùng ở nhóm phơi nhiễm thấp hơn ở nhóm không phơi nhiễm; điều này củng cố thêm sự lo ngại trước đây về BPA gây rối loạn hệ sinh dục dẫn đến vô sinh nam. Một số nghiên cứu khác thấy: BPA làm biến đổi khả năng sinh sản tử cung, dẫn tối vô sinh nữ.

BPA với men răng: nghiên cứu công bố trên American Journal of Pathology (10/6/2013), nhà khoa học Pháp Katia Jedeon thuộc Trung tâm nghiên cứu Coirdeliers phát hiện: phơi nhiễm BPA dù với liều thấp cũng ảnh hưởng đến sự hình thành răng sữa, gây nên bệnh thiếu chất khoáng ở men răng hàm, răng cửa (MIH). MIH là bệnh lý đặc trưng bởi các vết trắng hay ngà vàng trên răng tuy nhẹ nhưng làm răng yếu đi.

BPA với các bệnh lý khác: bệnh thiếu chất khoáng ở men răng (MIH) chỉ là biểu hiện ban đầu của phơi nhiễm BPA. Các nghiên cứu trên động vật, trên người khẳng định: phơi nhiễm BPA đầu thai kỳ hay giai đoạn đầu đời có thể làm gia tăng sự phát triển về sau này các bệnh lý: béo phì, đái tháo đường týp 2, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, rối loạn sinh sản. Do đó cần tiếp tục quan sát bệnh MIH trong thời gian dài.

BPA với bệnh tim: những nghiên cứu ở Mỹ và Anh cho biết: nhóm người có BPA trong nước tiểu ở mức cao nhất có nguy cơ mắc chứng rối loạn tim mạch cao gấp 2 lần so với nhóm người có BPA trong nước tiểu ở mức thấp nhất. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa phát hiện được nguyên nhân và hậu quả trực tiếp giữa BPA và bệnh tim, mối liên quan đó có thể là gián tiếp.

Sản phẩm thay thế BPA bằng BPS… vẫn độc 

Một số nước có quy định cấm dùng BPA rất cụ thể. Chẳng hạn: tháng 4/2008, Bộ Y tế Canada đã chính thức coi BPA là chất nguy hiểm. Năm 2012, PDA cấm sử dụng BPA trong bình sữa trẻ em. Các nhà sản xuất đã nhanh chóng tìm các sản phẩm thay thế BPA tạo ra dòng sản phẩm BPA- Free (không có BPA). Chất được dùng nhiều nhất là BPS.


BPS có cấu trúc tương tự BPA nhưng cầu nối carbon-hydro (CH2) được thay thế bằng cầu lưu huỳnh oxy(SO2).

Về sự phơi nhiễm: Kurunthachalan Kannan một nhà hóa học môi trường NewYork (2012) đã thử trên 315 người tiếp xúc, thấy có 81% có phơi nhiễm BPS, biểu hiện có mức BPS trong nước tiểu cao.

Về tính độc hại: Sheng Wang, một nhà dược học Đại học Cincinnati ở Ohio dẫn ra một nghiên cứu công bố trên Environmental Health Perspetives. Theo đó, BPA và BPS đều làm tăng tốc độ, đều gây rối loạn nhịp tim ở chuột cái nhưng không gây hiện tượng này trên chuột đực (vì cả BPA và BPS đều tác động như một estrogen yếu lên tim nhưng chuột đực có tín hiệu ngăn cản các hoạt động của estrogen trong khi chuột cái lại không có tín hiệu này).

BPA, BPS gây ra các triệu chứng trên chuột cái giống nhau đến mức không phân biệt được. Sau đó, Cassanda Kinch một nhà thần kinh học Đại học Calagy, nghiên cứu trên cá ngựa vằn nhận thấy: BPS cũng như BPA thúc đẩy sự phát triển sớm của các tế bào thần kinh đáp ứng với estrogen trong khu vực não dưới đồi. Điều này làm cho lúc lớn lên cá ngựa vằn có tính hiếu động thái quá...

Theo một nghiên cứu dược công bố trong kỷ yếu của Viện Hàn Lâm Khoa học Nga, BPS gây rối loạn hoạt động estrogen thậm chí còn hơn BPA. Theo đó, các nhà khoa học đề xuất phải xem lại việc thay thế BPA bằng BPS, nghiên cứu nhiều, sâu hơn nữa về các biphenol, chỉ cấm một mình BPA có thể chưa đủ.

Người tiêu dùng cần lưu ý gì? 

Nên dùng bao bì thủy tinh. Nếu dùng đồ nhựa nên chọn loại làm bằng polypropylen (PP). Các đồ nhựa chứa BPA hay BPS đều độc.

Hạn chế độc hại bằng cách: không đưa các sản phẩm nhựa này vào lò nóng (như lò từ trường), hay đựng thức ăn nóng; tránh tiếp xúc với các sản phẩm chứa chất này ở nhiệt độ cao, nếu có tiếp xúc thì cần có dụng cụ bảo hộ thích hợp, ngay sau đó phải rửa sạch.


DS.CKII. BÙI VĂN UY
Click đọc ngay…

Lưu ý khi dùng thuốc cảm cúm lúc giao mùa

21:00 |
Các thuốc cảm cúm hiện rất phổ biến trên thị trường, tuy nhiên cần lưu ý các thuốc này chỉ giúp giảm triệu chứng trên người bệnh mà không có tác dụng loại trừ nguyên nhân (virut) hay rút ngắn thời gian mắc bệnh. Ngoài ra, các thuốc cảm cúm có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng nếu không được sử dụng đúng cách. 

Cảm cúm là bệnh cấp tính do virut có khả năng lây lan cao qua đường hô hấp, thường xảy ra vào thời điểm giao mùa. Các triệu chứng của cảm cúm xuất hiện sau 1-3 ngày nhiễm virut bao gồm sốt, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, đau nhức cơ... 


Cảm cúm thông thường không biến chứng sẽ tự hết sau 7-10 ngày nhờ hệ miễn dịch của cơ thể. Mặc dù bệnh dễ mắc dễ khỏi, nhưng cảm cúm có thể khiến nhiều người cảm thấy khó chịu, bị gián đoạn công việc và giảm chất lượng cuộc sống. 

Các thuốc cảm cúm trên thị trường hiện rất đa dạng với nhiều tên biệt dược khác nhau nhưng có thành phần thuộc bốn nhóm chính sau: 

Thuốc hạ sốt, giảm đau: Thành phần hạ sốt, giảm đau trong các thuốc cảm cúm thường được sử dụng là paracetamol. Ở liều bình thường, paracetamol dung nạp tốt và ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, quá liều paracetamol có thể gây độc cho gan. Buồn nôn, nôn và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2-3 giờ sau khi dùng liều độc của thuốc. 

Hoại tử gan phụ thuộc liều là độc tính cấp nghiêm trọng nhất do quá liều paracetamol và có thể gây tử vong. Do đó, người bệnh cần tuân thủ đúng liều dùng và thời gian dùng thuốc. Cần hạn chế uống rượu khi đang dùng paracetamol do rượu làm tăng độc tính trên gan của thuốc. Đặc biệt, người bệnh cần kiểm tra kỹ tờ hướng dẫn sử dụng của các thuốc đang sử dụng để tránh quá liều do sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc cùng chứa paracetamol. 

Thuốc giảm ho: Codein và dextromethorphan là hai thuốc giảm ho thường được sử dụng. Cần lưu ý ho là phản xạ sinh lý giúp làm sạch đường thở, tống xuất đờm, dịch tiết hoặc vật lạ lọt vào đường hô hấp. Các thuốc giảm ho chỉ nên sử dụng trong trường hợp ho khan, ho quá mức gây mệt, nôn ói, mất ngủ. 

Một trong những tác dụng phụ nghiêm trọng của hai thuốc ho này là gây suy hô hấp, đặc biệt trên trẻ nhỏ. Do đó, không dùng thuốc cho trẻ nhỏ và thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh ho nhiều đờm, người bị hen hoặc suy giảm hô hấp... 

Việc dùng thuốc liều cao kéo dài có thể gây phụ thuộc thuốc nên cần tuân thủ đúng liều dùng và thời gian dùng thuốc. Ngoài ra, chống chỉ định codein cho phụ nữ cho con bú khi người mẹ nghi ngờ hoặc được xác định thuộc nhóm người có chuyển hóa codein cực nhanh thành morphin vì có thể gây tử vong cho trẻ bú mẹ do nhiễm độc morphin. 

Thuốc chống sung huyết, ngạt mũi: Các thuốc co mạch trị sung huyết, ngạt mũi: pseudoephedrin, phenylephrin, naphazolin, xylometazolin, oxymetazolin có dạng uống và dạng nhỏ, xịt mũi. 

Thuốc gây co mạch dẫn đến làm giảm lưu lượng máu và làm giảm sung huyết mũi. Tuy nhiên, khi dùng thuốc quá liều hoặc trên người bệnh nhạy cảm, đặc biệt trẻ em, thuốc có thể gây co mạch toàn thân dẫn đến tím tái, vã mồ hôi, choáng, tăng huyết áp, hồi hộp, chóng mặt, đánh trống ngực... Do đó, đặc biệt thận trọng khi dùng thuốc cho trẻ nhỏ, người bị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, người bị hen, suy thận, đái tháo đường hoặc cường giáp... 

Cần ngừng ngay thuốc nếu phản ứng phụ xảy ra. Ngoài ra, các thuốc co mạch dạng nhỏ, xịt mũi dùng lâu ngày có thể gây hiện tượng “bật lại” (rebound) tức là lúc đầu làm hết sổ mũi, nghẹt mũi nhưng sau đó gây nghẹt mũi trở lại do thuốc làm giảm tính đàn hồi của mạch máu trong niêm mạc mũi và làm tổn thương hệ thống màng nhầy - lông chuyển trong mũi. Do đó, người bệnh cần tuân thủ khuyến cáo về liều dùng và thời gian dùng thuốc (một đợt điều trị không kéo dài quá 5 ngày). 

Thuốc cảm cúm có thể gây nhiều tác dụng phụ bất lợi

Thuốc chống dị ứng: Các thuốc thuộc nhóm này clopheniramin, loratadin, diphenhydramin, triprolidin có tác dụng giảm nhẹ các triệu chứng viêm mũi, nghẹt mũi và ho do dị ứng. 

Một số trường hợp không được dùng các thuốc nhóm này bao gồm trẻ nhỏ, người bệnh glocom góc đóng, phì đại tuyến tiền liệt, hẹp môn vị... Thuốc có thể gây ngủ gà, chóng mặt, nhìn mờ và suy giảm tâm thần vận động nên cần tránh dùng cho người làm các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo như lái xe hoặc điều khiển máy móc... Người bệnh cần hạn chế uống rượu khi đang dùng thuốc vì rượu làm tăng tác dụng an thần của thuốc. 

Cần lưu ý, không dùng kháng sinh khi bị cảm cúm do virut. Kháng sinh chỉ được sử dụng trong một số trường hợp người bệnh cảm cúm bị bội nhiễm vi khuẩn. Khi được chỉ định kháng sinh, người bệnh cần lưu ý không bỏ liều thuốc và uống hết lượng thuốc được kê kể cả trong trường hợp cảm thấy khỏe hơn sau một vài ngày. 

Khi bị cảm cúm, người bệnh có thể áp dụng một số biện pháp không dùng thuốc để hỗ trợ đẩy lùi bệnh như nghỉ ngơi, bổ sung đầy đủ nước, đảm bảo dinh dưỡng (tăng cường một số loại thực phẩm như tỏi, hành, gừng, tía tô, chanh, mật ong...), hạn chế tiếp xúc để tránh lây lan bệnh. 

Đặc biệt, cảm cúm có thể chủ động phòng tránh bằng cách thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, tránh đến chỗ đông người khi có dịch, ăn uống đủ chất và tiêm vắc-xin phòng bệnh. 


DS. Trần Thúy Ngần
Click đọc ngay…

Sử dụng thuốc hạ sốt tại nhà an toàn hiệu quả

20:30 |
Lên cơn sốt cao sẽ làm rối loạn sinh lý của nhiều cơ quan, hệ thống, phải dùng thuốc hạ sốt. Đó là các yêu cầu cấp bách trong các tình huống gia đình. Tuy là loại thuốc thông thường có thể tự sử dụng nhưng đặc biệt cần lưu ý khi phải dùng thuốc cho trẻ nhỏ và người cao tuổi. 

Chọn thuốc hạ sốt loại nào? 

Trước hết, trong các thuốc cần chuẩn bị trong tủ thuốc gia đình, thuốc hạ sốt là thuốc đầu bảng bạn cần phải dự trữ. 

Thuốc hạ sốt dễ mua, dễ dùng và tương đối an toàn

Có hai lý do: sốt là một phản ứng cấp tính dễ dàng gây ra biến chứng với trẻ em và người già. Vì thế chúng ta cần khẩn trương hạ sốt ngay khi có nguy cơ sốt sẽ lên quá cao. Lý do nữa đó là thuốc hạ sốt lại tương đối an toàn và dễ dùng, có thể tự dùng tại nhà mà ít khi gây ra những phản ứng đặc biệt nghiêm trọng. Nên bạn rất cần thiết chuẩn bị thuốc này sẵn sàng để dùng khi cần. 

Thuốc hạ sốt trên thị trường rất nhiều loại với các dạng khác nhau. Câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ lựa chọn loại nào. Trong các tình huống thông thường, khuyên bạn nên chọn paracetamol (còn gọi là acetaminophen). Trên thị trường còn một loại thuốc hạ sốt nữa là aspirin nhưng loại này khó dùng hơn và có một số đối tượng chống chỉ định. Vì thế, tốt nhất bạn nên chọn paracetamol. 

Ưu điểm của loại này: tác dụng nhanh, an toàn, ít có biến chứng, hiệu lực hạ sốt mạnh và dễ sử dụng. 

Cách mua thuốc hạ sốt

Khi mua thuốc, bạn thường được dược sĩ giới thiệu nhiều loại để bạn lựa chọn cho cùng một loại thuốc paracetamol. Chung quy lại có một số loại sau đây: 

Loại paracetamol đơn thuần: Loại này chỉ có tác dụng hạ sốt và kháng viêm nhẹ, có tác dụng hạ sốt rất mạnh, thích hợp dùng hạ sốt cho trẻ bị sốt do mọc răng, sốt phát ban, sốt virut. Người bán thuốc hay gọi là efferalgan xanh. 

Loại có kết hợp với codein: Loại này vừa có tác dụng hạ sốt, vừa có tác dụng chống đau đầu, thích hợp với người lớn bị sốt do bị nhiễm virut, sốt có kèm theo đau đầu, đau mỏi cơ khớp. Người bán thuốc hay gọi là effralgan đỏ. 

Loại có kết hợp với chlorpheniramine: Loại này thích hợp với các loại sốt do cúm, do viêm họng, viêm đường hô hấp. 

Thuốc hạ sốt dạng viên nén: thích hợp với người lớn và người già, loại dạng gói bột, viên đạn, cao dán thích hợp với trẻ em. Như vậy, tùy thuộc vào gia đình bạn có những thành viên nào mà chúng ta lựa chọn dạng thuốc dùng cho phù hợp. 

Nếu nhà bạn chỉ toàn người lớn: bạn nên mua efferalgan xanh và đỏ. Tùy từng trường hợp mà dùng cho thích hợp. Dạng này bào chế với hàm lượng 500mg. Bạn có thể mua mỗi thứ 1 vỉ, gồm 4 viên. 

Nếu nhà bạn có trẻ em: bạn nên mua thêm hai loại khác, bao gồm: thuốc dạng gói bột có hương vị cam, chanh, dâu... (hoặc cao dán) và dạng viên đạn. Khi trẻ có thể uống được thì pha gói cho trẻ uống. Ở dạng này thuốc sẽ được hấp thu tốt hơn, đỡ phải dùng liều cao hơn. 

Còn nếu trẻ sốt li bì, không uống được, hay nôn trớ, bạn có thể dùng cao dán hoặc dùng viên đạn nhét hậu môn. Dùng viên đạn là đơn giản nhất. 

Lưu ý, thuốc dùng cho trẻ em lúc này dùng theo dạng hàm lượng chi tiết cụ thể. Dạng gói bột được bào chế dưới hai hàm lượng: 80mg và 250mg. Dạng 80mg dùng cho trẻ em có cân nặng từ 5-12kg, tức là từ khi sinh đến khoảng 1 tuổi. Dạng 250mg dùng cho trẻ từ 13-50kg, tức là trẻ từ 2 - 15 tuổi. 

Dạng viên đạn được bào chế với 3 hàm lượng: 80mg, 150mg và 300mg. Dạng 80mg dùng cho trẻ từ 4-6kg, tức là trẻ từ 1-5 tháng tuổi. Dạng 150mg dùng cho trẻ có cân nặng từ 7-12kg, tức là từ 6 tháng-1 tuổi. Dạng viên đạn 300mg dùng cho trẻ từ 13-24kg, tức là trẻ từ 2-9 tuổi. 

Đo nhiệt độ thường xuyên khi bị sốt đề phòng biến chứng

Cách dùng thuốc hạ sốt tại nhà an toàn

Cách dùng rất đơn giản nhưng phải tuân theo các quy tắc chặt chẽ như sau: Khi trong gia đình có người sốt từ 39 doC thì bạn đã có thể cho dùng thuốc hạ sốt. 

Với trẻ em khi sốt trên 38,5 doC thì bạn nên dùng ngay vì tốc độ sốt của trẻ đến 39doC, 40doC là rất nhanh. Đây là hai ngưỡng nhiệt độ nguy hiểm. Thông thường, cách dùng đơn giản với cả người lớn và trẻ em. Với người lớn thì nên dùng liều 2-3 lần/ngày. Mỗi lần 1 viên. Với trẻ em thì nên dùng 3-4 lần/ngày. Mỗi lần dùng một gói hoặc một viên đạn. 

Không được dùng liên tiếp các liều trong vòng dưới 4 tiếng đồng hồ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt. Một số trường hợp đặc biệt đó là thuốc không có tác dụng hạ sốt. Vậy làm thế nào để nhận ra điều này. 

Trước khi uống thuốc, bạn đo nhiệt độ một lần, đo bằng nhiệt kế thủy ngân, sau đó cho uống thuốc. Nếu sau 30 phút nhiệt độ không giảm có thể cho uống tiếp liều thứ 2. Nếu lần này sốt vẫn không hạ, bạn cần cho đi viện ngay. Không dùng một ngày quá 6 liều quy định liên tiếp. 

Các trường hợp cần phải cho đi viện: sốt kéo dài quá 3 ngày, sốt mà dùng thuốc không hạ sốt, sốt quá cao, 40-410C (vừa phải cho dùng thuốc vừa cho đi viện ngay) sốt, có dùng thuốc nhưng bị dị ứng. 

Đặc biệt cần lưu ý không dùng thuốc nếu thấy dị ứng, không dùng thuốc với người bị bệnh viêm gan, trẻ em bị bệnh viêm gan vàng da do tắc mật. Các trường hợp này cấm dùng thuốc tại gia. Khi đó, có sốt, phải đưa đi bệnh viện và điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ. 


BS. Yên Lâm Phúc
Click đọc ngay…

Mẹ mắc quai bị có thể cho con bú?

15:04 |
Mẹ bị quai bị có nên cho con bú? Chào Bác sĩ! Tôi năm nay 22 tuổi tôi đang bị quai bị có nên cho con bú không? Và bé có bị lây không? Và tôi nên uống gì để nhanh khỏi? 

Bác sĩ trả lời

Chào bạn ! Bệnh quai bị do vi rút quai bị gây nên, bệnh lây truyền từ người sang người qua đường hô hấp do người lành hít phải những giọt nước bọt có chứa vi rút của người bệnh khi người bệnh ho, hắt hơi, xỉ mũi, hoặc nói chuyện. 


Bệnh cũng có thể lây truyền gián tiếp nếu như người lành sử dụng khăn, đồ vật khác nhiễm vi rút quai bị, sau đó không rửa tay mà để tay chạm vào miệng, mũi. 

Người mẹ cho con bú thì trong sữa mẹ không có chứa vi rút và chỉ có kháng thể của cơ thể chống lại bệnh tật. Do vậy việc cho con bú không làm lây truyền vi rút quai bị. Ngược lại những kháng thể có trong cơ thể của mẹ sẽ được cung cấp cho con qua nguồn sữa mẹ để chống lại bệnh tật. 

Tuy nhiên, người mẹ bị bệnh quai bị vẫn có thể làm lây bệnh cho qua đường hô hấp trực tiếp nếu trẻ hít phải những giọt nước bọt của mẹ có chứa vi rút. Vì vậy khi cho con bú mẹ và bé nên dùng khẩu trang, mẹ cũng tránh thơm hay hôn bé. Tránh để nước bọt của mẹ tiếp xúc với mũi, miệng, tay của trẻ. 

Tốt nhất là mẹ nên cách ly với bé là 5 ngày sau khi có triệu chứng, chỉ nên tiếp xúc khi thật cần thiết. (Người mắc bệnh quai bị có thể lây truyền bệnh cho người lành trong khoảng thời gian 2-3 ngày trước khi có triệu chứng và 5 ngày sau khi bệnh khởi phát. 

Vì vậy Trung tâm kiểmsoát và phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo người bệnh nên được cách ly 5 ngày sau khi có triệu chứng sưng đau tuyến nước bọt). Nếu các biện pháp bảo vệ cho mẹ và bé được thực hiện không tốt thì mẹ nên cân nhắc vắt sữa bằng tay cho trẻ tạm thời bú bình trong thời gian ngắn. 

Bệnh quai bị không có điều trị đặc hiệu, mà chỉ có điều trị triệu chứng như chống viêm, hạ sốt, bù dịch và nâng đõ cơ thể. Vì vậy chế độ ăn cho người bệnh cần đảm bảo giàu chất dinh dưỡng, dễ hấp thu, đủ vi tamin và khoáng chất để giúp cơ thể phục hồi nhanh hơn. 

Bạn nên ăn cháo, có thể nấu cháo thịt nạc, thịt bò, thịt gà, trứng gà, cá nấu với các loại rau, củ, quả... Chúc bạn sớm khỏi bệnh! 


ThS. Nguyễn Kiên Cường-Y học Dự phòng-Viện Y học dự phòng Quân đội
Click đọc ngay…

Thuốc chữa rối loạn tiêu hóa do ăn uống

14:28 |
Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng rất thường gặp. Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh thường có biểu hiện như đau bụng, đầy bụng khó tiêu, đi phân lỏng hoặc tiêu chảy... Vậy việc dùng thuốc trong các trường hợp này như thế nào? 

Đầy bụng khó tiêu 

Đầy bụng khó tiêu là cảm giác đầy trướng bụng, tức bụng, ậm ạch khó chịu, thường xảy ra sau khi ăn nhưng cũng có khi suốt ngày và tăng lên sau khi ăn. Nguyên nhân là do có sự tích khí trong đường tiêu hóa, do tiêu hóa không tốt, thức ăn bị ứ đọng ở dạ dày. 


Khi bị cảm giác này có thể dùng gừng giã nhỏ lấy nước hoà với nước ấm sẽ giúp giảm triệu chứng này. Ngoài ra có thể dùng một số thuốc sau, nhưng cũng chỉ dùng trong khoảng 5-7 ngày, nếu tình trạng không được cải thiện cần đi khám bệnh: 

Maalox: Được dùng khi bị chứng khó tiêu đầy bụng kèm theo ợ chua do thừa axit dịch vị. Thuốc có tác dụng kháng axit dịch vị, bảo vệ niêm mạc thực quản, niêm mạc dạ dày tá tràng, điều trị chứng đầy bụng chậm tiêu. Dùng thuốc sau ăn từ 30 - 60 phút. 

Domperidon: Dùng khi sự co bóp dạ dày kém đưa đến sự chuyển đẩy thức ăn từ dạ dày xuống ruột chậm. Thuốc có tác dụng điều hòa nhu động dạ dày - ruột, trị các chứng đầy bụng, buồn nôn. Không dùng thuốc cho người có tiền sử chảy máu dạ dày - ruột, nghẽn ruột, phụ nữ có thai. 

Neopeptine: Đây là men tiêu hoá sẽ giúp thức ăn tiêu hoá dễ dàng hơn giảm cảm giác đầy bụng chướng hơi. 

Phân lỏng hoặc tiêu chảy 

Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh có thể đi ngoài phân lỏng, thậm chí nhiều nước (tiêu chảy). Nếu đi phân lỏng có thể dùng berberin (được chiết xuất từ cây hoàng đằng). Thuốc này được xem là một loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột, được chỉ định trong hội chứng lỵ do trực khuẩn, viêm ruột, tiêu chảy... Ngoài ra, berberin còn có tác dụng làm tăng tiết mật, giúp tiêu hóa tốt. 

Nếu tiêu chảy, việc đầu tiên cần bù nước và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol (cần pha đúng tỷ lệ theo hướng dẫn trên bao bì/nhãn của sản phẩm). Trong trường hợp không có sẵn oresol có thể thay bằng nước cháo muối hoặc đường muối pha 1 thìa cà phê muối với 8 thìa đường trong 1 lít nước sẽ được dung dịch để uống khi bị tiêu chảy. 

Không được dùng thuốc để cầm tiêu chảy, vì trong trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, chất độc, dùng thuốc cầm ngay tiêu chảy không có lợi, cơ thể cần tiêu chảy để tống chất độc ra khỏi cơ thể. Chỉ khi tiêu chảy không khu trú, kéo dài mới tính tới chuyện dùng thuốc cầm tiêu chảy như loperamid (tốt nhất là dùng theo chỉ định của bác sĩ). 

Khi bị tiêu chảy nặng hoặc tiêu chảy hơn 3 ngày cần đi khám bệnh để được xử lý kịp thời, thích hợp. 


DS. Hoàng Thu Thủy
Click đọc ngay…