Cách lựa chọn giò chả ngon không chứa hàn the

15:04 |
Giò, chả là một trong những thực phẩm không thể thiếu trên mâm cỗ ngày xuân của mỗi gia đình Việt. Tuy nhiên, vì lợi nhuận một số cơ sở sản xuất sử dụng hàn the trong chế biến loại thực phẩm này đã khiến người tiêu dùng lo ngại vì những ảnh hưởng tới sức khỏe. Vậy làm thế nào để nhận biết giò chả có chứa hàn the? 

Giò chả chứa hàn the gây hại cho sức khỏe 

Hàn the là chất chống ôxy hóa và có tính sát trùng nhẹ, trước đây được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm do một số ưu điểm, như có thể giữ thực phẩm được tươi ngon trong thời gian dài không bị ôi thiu nên hay được dùng để ướp cá, thịt. 


Bên cạnh đó, hàn the cũng có thể làm tăng độ dẻo của thực phẩm, do vậy, thường được cho vào bún, phở, giò, nem chua... Tuy nhiên, sau năm 1990, rất nhiều nước đã cấm tuyệt đối việc sử dụng chất này trong chế biến thực phẩm vì những nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe. 

Khi vào trong cơ thể, hàn the tác dụng với axit trong dịch vị dạ dày giải phóng ra axit boric. Hoạt chất này có tác dụng ức chế thực bào, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, nó có đặc tính gắn kết với thực phẩm làm cho thực phẩm khó được tiêu hóa hơn bình thường rất nhiều. 

Hàn the không bị thải loại hoàn toàn mà nó có khả năng tích tụ lên đến 15% lượng tiếp nhận vào cơ thể. Điều này về lâu dài sẽ gây ngộ độc mạn tính, dần dần làm suy thận, suy gan dẫn đến tình trạng da xanh xao, biếng ăn, cơ thể suy nhược, thậm chí còn làm teo tinh hoàn, vô sinh hoặc các tai biến hệ tiêu hóa đối với ai sử dụng nhiều. 

Trẻ em dùng hàn the lâu ngày dẫn đến sự phát triển chậm trong tuổi trưởng thành. Phụ nữ mang thai nếu bị nhiễm độc hàn the thì dư lượng hàn the có thể được thải trừ qua rau thai và sữa, gây nhiễm độc tới thai nhi và trẻ nhỏ. 

Chọn mua giò, chả ngon 

Giò lụa ngon khi cắt ra có màu trắng ngà hơi ngả sang màu hồng nhạt, bề mặt có nhiều lỗ rỗ, nhìn miếng giò mịn và hơi ươn ướt. Nếu giò không có những lỗ rỗ này tức là giò đã bị pha lẫn bột và làm bằng thịt không đảm bảo chất lượng. 

Mùi giò ngon chỉ thơm thoang thoảng, quyện với hương của lá gói, khi ăn sẽ có vị thơm ngọt, hơi giòn, mềm mềm, không dai, không có cảm giác khô rắn, không bị bã và cũng không bị bở. Còn giò có mùi thơm nồng, thơm sực thì nên thận trọng bởi rất có thể đó là loại giò đã được tẩm chất phụ gia hương thịt. Không mua giò có mùi ôi, thiu, lá gói khô, cũ, dính nhớt tay hoặc có triệu chứng của nấm, mốc. 

Chả ngon sẽ có lớp vỏ màu vàng tự nhiên của thịt rán, nhưng vỏ hơi sần sùi, không mịn, lớp bên trong mềm, mịn, có nhiều lỗ rỗ nhỏ, có mùi thơm nhẹ. Sờ tay vào miếng chả thấy mềm, hơi ươn ướt nhưng không dính nhớt mà chỉ dính một chút mỡ ở tay. Còn nếu miếng chả có mùi thơm, dai, giòn bất thường thì rất có thể nó đã bị trộn lẫn với hàn the. 

Chả ngon là khi ăn không bị nát, không bở mà cũng không quá khô cứng. Nếu miếng chả quá bở, ăn không còn vị béo ngậy đặc trưng của thịt, bề mặt không có lỗ rỗ thì tức là trong lúc chế biến thịt đã bị pha lẫn với bột. 

Muốn thử thực phẩm bánh đúc, giò, chả... có hàn the không, có thể lấy miếng giấy nghệ (giấy thử ngâm nước nghệ tươi rồi phơi khô) ấn vào bề mặt sản phẩm. Sau một phút quan sát, nếu thấy giấy nghệ chuyển từ màu vàng sang đỏ đó là thực phẩm có hàn the. 


BS. Thu Hà
Click đọc ngay…

Bệnh ung thư tăng cao có phần lớn từ thực phẩm

09:22 |
Bệnh ung thư đang có xu hướng gia tăng nhanh trên thế giới và ở nước ta trở thành một vấn đề lớn trong y tế cộng đồng. Có nhiều lý do giải thích về sự gia tăng của bệnh ung thư như vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm... 

Vấn đề dinh dưỡng cũng là một yếu tố quan trọng liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh và phát triển của căn bệnh ung thư. 

Các chất gây ung thư có trong thực phẩm 



Nitrosamin: Nitrosamin và các hợp chất N-nitroso khác là những chất gây ung thư thực nghiệm trên động vật. Những chất này thường có mặt trong thực phẩm với một lượng nhỏ. Các chất nitrit và nitrat thường có tự nhiên trong các chất bảo quản thịt, cá và các thực phẩm được chế biến, trong dưa cà khú hỏng. Tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa nitrit và nitrat có thể gây ra ung thư thực quản, dạ dày. 

Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại thực phẩm ướp muối, hay ngâm muối như cá muối, có hàm lượng nitrosamin cao. Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thường tiêu thụ loại thực phẩm này có liên quan đến sinh bệnh ung thư vòm mũi họng. 

Các nhà khoa học Nhật Bản chỉ ra việc tiêu thụ nước mắm, chứa một hàm lượng nitrosamin cao, liên quan đến ung thư dạ dày. Những nhà khoa học nước ta đang nghiên cứu loại thực phẩm dưa muối, cá muối, đặc biệt là dưa muối bị khú có hàm lượng nitrosamine cao, có thể có liên quan đến ung thư ngày càng tăng ở nước ta. 

Aflatoxin: aflatoxin sinh ra từ nấm mốc Aspergillus flavus. Đây là một chất gây ra bệnh ung thư gan, bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới. Loại nấm mốc này thường có trong các ngũ cốc bị mốc hoặc là lạc mốc, việc tiêu thụ các thực phẩm này là một nguyên nhân gây bệnh ung thư gan. 

Chất phụ gia và các chất gây nhiễm khác có trong thực phẩm 

Các nhà khoa học phương Tây cho thấy, sử dụng một số phẩm nhuộm thực phẩm có thể gây ra ung thư như chất paradimethyl amino benzen dùng để nhuộm bơ thành “bơ vàng” có khả năng gây ung thư gan. Tại các nước này sử dụng các phẩm nhuộm thức ăn cũng như các chất phụ gia được kiểm duyệt rất nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn thực phẩm. 

Việc sử dụng phẩm màu công nghiệp trong chế biến thức ăn ở nước ta còn chưa được quản lý nghiêm ngặt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và đây cũng là một trong những tác nhân gây ung thư. 

Không mua thức ăn có màu sắc sặc sỡ hoặc nghi ngờ có sử dụng phẩm màu không cho phép. Nên dùng màu sắc tự nhiên trong chế biến thức ăn như màu đỏ của cà chua, gấc; màu vàng của nghệ. 

Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra các thực phẩm có chứa dư lượng, tàn tích của các thuốc trừ sâu, không chỉ có thể gây ra ngộ độc cấp tính mà còn khả năng gây ung thư. Do vậy, vấn đề an toàn thực phẩm, tiêu thụ rau sạch hiện nay đang được xã hội quan tâm. 

Cách nấu nướng và bảo quản thực phẩm: Một số cách nấu thức ăn và bảo quản thực phẩm có thể sẽ tạo ra chất gây ung thư. Những thức ăn hun khói có thể bị nhiễm benzopyren, một chất gây ung thư thực nghiệm. Việc nướng trực tiếp thịt ở nhiệt độ cao có thể tạo ra một số sản phẩm có khả năng đột biến gen như dioxin, hydro-cacbon thơm đa vòng... 



Dinh dưỡng cũng góp phần… 

Khẩu phần ăn đóng một vai trò quan trọng trong gây ung thư nhưng ngược lại có thể lại làm giảm nguy cơ gây ung thư. 

Chất béo và thịt: Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy có mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng với chế độ ăn nhiều mỡ, thịt động vật. 

Chế độ ăn nhiều mỡ, thịt gây ung thư qua cơ chế làm tiết nhiều axit mật, chất ức chế quá trình biệt hóa của các tế bào niêm mạc ruột. Các nhà khoa học đã nghiên cứu mối liên quan chặt chẽ tiêu thụ chất béo với ung thư vú. Tỷ lệ tử vong do mắc ung thư vú tăng theo mức tiêu thụ mỡ. 

Hoa quả và rau xanh: Trong hoa quả và rau xanh chứa nhiều vitamin và chất xơ. Các chất xơ làm hạn chế sinh ung thư do chúng thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, mặt khác, bản thân chất xơ có thể gắn và cố dịnh các chất gây ung thư để bài tiết theo phân ra ngoài cơ thể. 

Các loại vitamin A, C, E làm giảm nguy cơ ung thư biểu mô, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư phổi... thông qua quá trình ôxy hóa, chống đột biến gen. Đặc biệt, các loại rau thơm và rau gia vị với các thành phần chống ôxy hóa (caroten, vitamin C...) và các tinh dầu không chỉ kích thích tiêu hóa mà còn hạn chế và ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư. 

Việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống nhiễm hóa chất gây ung thư trong thức ăn; thực hiện chế độ ăn cân đối hợp lý, tránh thái quá mỡ, thịt động vật, đồng thời tăng cường tiêu thụ trái cây và rau xanh không chỉ là biện pháp dự phòng bệnh ung thư mà còn có thể phòng chống được nhiều bệnh khác. 


TS. Nguyễn Văn Hiếu (Bộ môn Ung thư - Trường ĐH Y Hà Nội)
Click đọc ngay…

Mắc ấu trùng lợn do ăn thịt tái

10:03 |
Bệnh ấu trùng sán lợn là một bệnh ký sinh trùng hay gặp ở những người có thói quen ăn thức ăn chưa chín hoặc tái sống, nem chạo,... Điều đáng lưu ý, ấu trùng sán lợn thể thần kinh, não là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Hơn thế nữa bệnh lại dễ bị chẩn đoán nhầm dẫn đến việc chữa trị gặp nhiều khó khăn. 

Bệnh lây qua đường ăn uống 

Chu kỳ của bệnh ấu trùng sán lợn do sán dây lợn bắt đầu là giai đoạn ấu trùng trong lợn. Nhiễm sán dây ở người xảy ra khi các nang được tiêu hóa vào trong cơ thể do nấu chưa chín thịt lợn. Các ấu trùng dính vào ruột và trưởng thành sán. 



Sau đó sán đẻ ra các đốt sán chứa nhiều trứng sán ra theo phân và có thể nhiễm vào trong các thực phẩm hàng ngày. Khi người nuốt phải trứng, qua con đường lây truyền phân, miệng hoặc khả năng thông qua con đường tự nhiễm và phát triển thành bệnh ấu trùng sán lợn. 

Lây truyền qua đường phân miệng thường xảy ra thông qua thức ăn nhiễm bẩn trên bàn tay người do không rửa tay trước khi ăn. Hoặc các loại trái cây hoặc rau quả được tưới bởi phân người nhiễm bệnh.

Do vậy, bệnh dễ lây qua ăn uống, khi người ăn uống phải trứng sán, trứng sán vào đến dạ dày - ruột, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa trứng sẽ nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ống tiêu hóa vào mạch máu và mạch bạch huyết, đến các cơ quan trong cơ thể thành thể nang. 

Hay gặp nhất là nhu mô não và mắt. Ngoài ra còn xuất hiện ở: cơ vân, mô dưới da, tim, phổi, gan, tủy sống... ngoài ra chúng có thể lây qua đường tự nhiễm, người mắc bệnh, sán trưởng thành kí sinh ở ruột non. 

Do nhu động ngược của ruột như nôn mửa, các đốt sán già trào ngược lên dạ dày. Tại đây trứng thoát ra khỏi đốt sán và nở ra ấu trùng (số lượng rất lớn) chui qua niêm mạc đường tiêu hóa vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. 

Dễ chẩn đoán nhầm 

Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào số lượng, vị trí, giai đoạn phát triển ấu trùng ở não. Các nang sán có thể ở não, tủy sống, mắt, cơ và mô dưới da. Các vị trí nang sán tại não và mắt dễ gây tử vong và có tỷ lệ mắc nhiều nhất. Não là vị trí hay gặp nhất của ấu trùng sán lợn: 60-90%, mắt chiếm tỷ lệ: 1-3% các trường hợp bệnh. 

Triệu chứng hay gặp: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, giảm trí nhớ; nặng hơn có thể rối loạn tâm thần, liệt mặt, liệt tứ chi, nói ngọng, mờ mắt, viêm màng não mạn tính, sút cân, động kinh... và có thể dẫn đến tử vong. 

Trên thực tế nhiều bệnh nhân nhập viện ở tuyến cơ sở vì liệt mặt bên phải, liệt nửa người bên phải. Điển hình như bệnh nhân Lê Văn H. ở Hà Nam, với tiền sử khỏe mạnh, không mắc bệnh kinh niên, mạn tính, bệnh nhân thường hay ăn thịt lợn nướng, thích lợn hun khói, thịt bò tái. 

Cách thời điểm nhập viện 2 tháng, bệnh nhân thường nhức đầu nhẹ sau đó bị méo miệng về bên trái, tay phải yếu không cử động được, không nắm được vật dụng, kèm theo chân phải yếu dần, không cử động được. Bệnh nhân đến bệnh viện ở Hà Nam và được chẩn đoán, nghi ngờ ung thư phổi di căn hoặc nấm ở phổi hoặc lao phổi và được chuyển đến Bệnh viện Bạch Mai. 

Sau khi làm các xét nghiệm nghiệm sinh hoá, điện tim, Xquang phổi, chụp cắt lớp vi tính não... các bác sĩ nghi u não do ấu trùng sán dây lợn và chuyển bệnh nhân sang Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Sau khi làm xét nghiệm chẩn đoán, bệnh nhân đã được điều trị nhưng vẫn bị di chứng liệt còn liệt nhẹ dây thần kinh số VII. Bệnh nhân có thể tử vong nếu nang sán tại não và mắt. 



Nếu lượng nang sán hoặc gánh nặng nhiễm ấu trùng sán lợn nhiều trong mô thần kinh có thể gây nên các biểu hiện bệnh lý não với sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, thay đổi tri giác, động kinh. Các nang sán cũng có thể xảy ra khi nằm trong khoang não thất hoặc vùng dưới nhện. 

Đôi khi chúng phát triển đủ lớn để hình thành nên các dấu chứng thần kinh, dấu màng não, não úng thủy, hoặc liệt các dây thần kinh sọ não - khiến cho thầy thuốc lâm sàng nhầm lẫn với các bệnh lý thần kinh khác. 

Hiếm gặp hơn, các nang sán định vị trong cột tủy sống có thể gây ra triệu chứng đau rễ thần kinh hoặc dị cảm khó thể phân biệt với các bệnh lý tủy sống khác. Ấu trùng sán lợn có thể được tìm thấy trong khoang dưới võng mạc hoặc thủy tinh thể và đe dọa đến tầm nhìn hay thị lực do quá trình viêm hoặc các nang phá hủy, thoái hóa hoặc có thể dẫn đến bong võng mạc. 

Phòng ngừa vẫn là tốt nhất 

Để phòng bệnh thực hiện nguyên tắc ăn chín uống sôi. Tuyệt đối không ăn thịt tái sống, lợn bệnh, không ăn tiết canh, ăn rau sống phải rửa sạch, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. 

Vệ sinh môi trường sạch sẽ, sử dụng hố xí hợp vệ sinh, không đại tiện bừa bãi, không nuôi lợn thả rông. Khi có biểu hiện nghi ngờ hoặc đại tiện thấy có đốt sán hoặc thấy u nhỏ bằng hạt đậu phộng dưới da... cần phải đi khám ngay, để được chẩn đoán, điều trị sớm kịp thời tránh biến chứng. 


BS. Hồng Hà
Click đọc ngay…

Làm trắng da đơn giản với thực phẩm hàng ngày

15:31 |
Trong thực tế đời sống thường nhật đã có nhiều cách, song để an toàn hiệu quả hơn, xin giới thiệu vài cách làm trắng đẹp da từ những loại thực phẩm thông thường, dễ kiếm. 

Thường ngày, do sự tác động của ánh nắng mặt trời, hóa chất ô nhiễm môi trường... đã làm da bị lão hóa, ảnh hưởng đến vẻ đẹp của da. Do đó, sự mong muốn làm sao cho da được trắng trẻo, nhất là chị em, là điều chính đáng.  



- Cà rốt và mật ong: Mật ong và cà rốt đều chứa các vitamin có lợi cho da như A, E... Lấy lượng cà rốt vừa đủ, rửa sạch, nghiền nhỏ rồi cho mật ong vào trộn đều cho thật nhuyễn (lượng mật ong và cà rốt bảo đảm tỷ lệ 1:3). 

Sau cho vào khăn vải sạch để chườm lên da, vừa chườm vừa mát xa trong khoảng 10 phút (sau khi đã rửa sạch vùng da muốn làm trắng bằng nước sạch hoặc nước ấm nếu trời lạnh, rồi lau khô). Cuối cùng rửa sạch vùng da chườm bằng nước sạch. Ngày làm 1 lần. 

- Váng sữa: Sữa bò tươi cho vào nồi đun nhỏ lửa để tạo thành lớp váng sữa trên bề mặt trông như màng mỏng. Vớt lớp màng này ra và vẫn tiếp tục đun cho đến khi không thấy xuất hiện thêm lớp váng nữa thì dừng. Lấy lớp váng sữa này trộn với các trái cây và ăn hoặc để rửa mặt đều hiệu quả. 

- Canh đỗ đen: Trong đậu đen giàu vitamin, đặc biệt là gốc vitamin E, B. Hàm lượng vitamin E có trong đậu đen nhiều gấp 6 - 7 lần trong các loại thịt. Khi chế biến món canh đỗ đen cần chọn những hạt đậu mẩy, không nấm mốc, rửa sạch cho vào ninh nhừ cùng canh thịt gà hoặc thịt lợn ăn ngày 1 lần. 

- Quả táo: Các thành phần chứa trong táo như vitamin C cùng nhiều khoáng chất, đường tự nhiên và acid malic có công hiệu nuôi dưỡng cũng như dưỡng ẩm hiệu quả cho da. Cách làm đơn giản là lấy vài lát táo đắp lên mặt sẽ giúp có làn da đẹp tươi sáng. 

- Đắp mặt nạ mướp: Các nghiên cứu cho thấy, mướp có tác dụng hoạt huyết, mát da, giải độc và làm trắng da. Lấy mướp thái lát mỏng, nghiền nhỏ, cho thêm chút bột hạt lúa mạch và vài muỗng nước sạch. Trộn đều hỗn hợp trên, sau đó đắp lên mặt khoảng 15 - 20 phút. Thực hiện 2 - 3 lần/tuần liên tục trong vòng 1 tháng sẽ thấy có hiệu quả. 


BS. Hoàng Xuân Đại
Click đọc ngay…

Thực phẩm làm tăng nguy cơ rối loạn mỡ máu

09:47 |
Mỡ động vật, thịt có màu đỏ, nội tạng động vật... là những loại thức ăn có nguy cơ làm tăng cholesterol, gây rối loạn mỡ máu, dẫn đến các bệnh về tim mạch, cao huyết áp hay gút... 

Theo các chuyên gia, cơ thể khỏe mạnh có khả năng tự điều hòa cholesterol, kiểm soát mỡ máu một cách hiệu quả. Tuy nhiên, khi cơ thể phải dung nạp nhiều loại thức ăn giàu chất béo bão hòa làm tăng cao nồng độ cholesterol trong máu. 
 
Lượng cholesterol dư thừa sẽ tích tụ ở thành mạch máu và màng tế bào gây ra những mảng xơ vữa ở động mạch, dẫn đến nhiều bệnh tim mạch nguy hiểm. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo, mặc dù tổng lượng chất béo hấp thu chiếm 30%-35% tổng lượng calories nhưng chất béo chuyển hóa chỉ nên hạn chế trong khoảng 7%-10% tổng lượng calories. 
 
 

Các thực phẩm giàu chất béo cụ thể là chất béo chuyển hóa và chất béo bão hòa làm tăng lượng cholesterol. Chất béo bão hòa chủ yếu có trong các loại thịt mỡ, bánh ngọt nướng, chocolate, bơ, phomai, các sản phẩm sữa bột nguyên kem hoặc sữa có hàm lượng béo 2%, kem đặc và da thịt gia cầm. 

Giống như chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa cũng làm tăng lượng cholesterol và mỡ máu, tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và mắc bệnh tim mạch. Chất béo chuyển hóa chủ yếu tìm thấy trong các loại dầu bị hydro hóa. Hầu hết các loại margarines và shortening thực vật đều có lượng chất béo chuyển hóa cao, chứa 0,3 gram - 4,2 gram chất béo trong một thìa. 

Các thực phẩm chế biến sẵn như các loại bánh cookies, đồ chiên đặc biệt là khoai tây chiên và các loại đồ ăn vặt chứa hàm lượng chất béo chuyển hóa cao. Ngoài ra, nhóm thực phẩm gây sự gia tăng cholesterol trong máu còn là mỡ động vật, thịt có màu đỏ (thịt bò, thịt heo), tôm, nội tạng, lòng bò, óc, trứng, dầu dừa (là dầu thực vật nhưng lại có nhiều acid béo bão hòa)...

Nhiều chuyên gia nhận định, nếu giảm lượng cholesterol trong khẩu phần ăn hằng ngày 1% sẽ giảm được 2% nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Để đạt được điều này, nên hạn chế sử dụng các loại thịt, cá xuống còn 150 gram - 200 gram mỗi ngày, cần chọn những thức ăn có hàm lượng mỡ và cholesterol thấp. 

Nhóm thực phẩm có chứa chất béo không bão hòa có trong dầu ô-liu, dầu cải, dầu đậu phộng (dầu lạc), các loại đậu, ô-liu và bơ giúp giảm nồng độ LDL cholesterol trong máu. Đặc biệt là dầu ô-liu và dầu hạt hướng dương có chứa 12,9% chất béo bão hòa, 15,1% chất béo không bão hòa đơn và 7,9% chất béo không bão hòa đa có thể giúp làm giảm 18% lượng LDL. 

Nhóm hạt có vỏ cám, đặc biệt là yến mạch có tác dụng giảm LDL cholesterol đáng kể. Kế đến là ngũ cốc và bánh mì. Ăn ngũ cốc mỗi sáng hay chuyển sang ăn gạo còn vỏ cám (gạo lức) có thể giúp giảm lượng cholesterol trong máu, từ 7-14%. 
 
 
 
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm thực phẩm có chứa lycopene (thành viên trong nhóm sắc tố carotenoid làm cho rau củ và trái cây có màu đỏ), có nhiều trong cà chua, dưa hấu cũng giúp giảm cholesterol. 

Tuy nhiên, chỉ có 20% lượng cholesterol hấp thu từ thức ăn còn đến 80% lượng cholesterol do cơ thể tự tổng hợp. Do vậy, một số người mặc dù có chế độ ăn hợp lý, cơ thể không thừa cân, thậm chí là gầy nhưng vẫn có nguy cơ bị rối loạn mỡ máu. 

Để điều hòa cholesterol, giữ thành phần mỡ máu ở mức ổn định, an toàn, cần thay đổi lối sống, không hút thuốc lá, tăng cường luyện tập cùng một chế độ ăn hợp lý. Bên cạnh đó, bổ sung những thảo dược thiên nhiên như GDL-5 giúp cơ thể điều hòa cholesterol, duy trì các chỉ số thành phần mỡ máu bao gồm LDL, HDL và Triglyceride ở mức có lợi và không gây bệnh.
Click đọc ngay…