Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ sỏi tiết niệu

21:12 |
Để bù lại cái nắng nóng ngày hè, cơ thể con người thích nghi bằng cách tăng tiết thải mồ hôi để vừa mát da, hạ nhiệt độ cơ thể xuống và tăng thở ra hơi nước. Nếu không bù lại nước và muối khoáng qua đường uống, lượng nước tiểu sẽ giảm xuống và nguy cơ sỏi đường tiết niệu tăng lên….. 

Xuất nhập nước luôn cân bằng động 

Hằng ngày mức cân bằng của lượng nước trong cơ thể người lớn khoảng ba lít rưỡi. Nước vào cơ thể do ăn uống và chuyển hóa sinh ra; lượng thu vào này luôn luôn “cân bằng động” (homeostasis) với lượng thải ra qua nước tiểu, hơi thở, mồ hôi và phân. 


Mùa nắng hơi thở và mồ hôi nhiều thì nước tiểu ít lại và mùa đông thì ngược lại nước chủ yếu thái qua đường tiểu và phân. 

Tại sao miền người miền Nam nhiều sỏi thận hơn? 

Sự tạo sỏi sẽ dễ dàng hơn khi số lượng tinh thể trong nước tiểu nhiều và lượng nước tiểu để hòa tan lại quá ít không tương xứng. Vào mùa hè thời tiết khô và nóng bức, con người sẽ thải nước ra ngoài chủ yếu qua dạng mồ hôi và hơi thở, do đó lượng nước thải ra đường tiểu ít đi. Đây là lời giải khoa học vì sao tỉ lệ sỏi niệu ở miền Nam cao hơn miền Bắc. 

Kết quả này phù hợp với các thăm dò niệu học của cố GS Ngô Gia Hy và cộng sự đã tiến hành. GS Hy lý giải rằng miền Nam khí hậu nóng hơn nên nước thải ra thường ở dạng mồ hôi và hơi thở nhiều hơn hẳn, ở miền Bắc có gió mùa lạnh lẽo nên chủ yếu đi tiểu nhiều nên nguy cơ sỏi thận ít hơn. 

Điều này tương tự như bí quyết sản xuất bột sắn (bột lọc). Đó là trong giai đoạn tinh lọc bột, nông dân phải khuấy dung dịch bột sắn và cho lắng gạn nhiều lần. Nếu cho quá nhiều nước vào bột sẽ không lắng đọng được như ý, ngược lại cho quá ít nước lại không đủ để hòa tan. 

Sỏi hệ niệu cũng sinh ra theo cơ chế tương tự: nhiều nước khó kết sỏi và ngược lại. 

Ăn ít khoáng, uống nhiều nước ngừa sỏi thận 

Tuy sỏi thận là một bệnh chuyển hóa khá phổ biến ở nước ta về tần suất mắc bệnh lẫn tỉ lệ tái phát, nhưng cũng khá dễ ngăn ngừa và chống tái phát. Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới phác đồ điều trị và ngừa tái phát sỏi thận đều rất đơn giản gồm: 


1. Uống thật nhiều nước: Đây là phương cách chính để phòng ngừa sỏi thận. Có thể uống nước lọc, nước sôi để nguội, nước suối, nước giải khát và cả uống bia. 

Uống nhiều nước đầu vào thì đương nhiên sẽ tăng lượng nước tiểu thải ra. Khi lượng nước tiểu tăng lên, các tinh thể sỏi không thể kết dính thành cục sỏi được. Đặc biệt, khi uống nước chanh, nước cam, nhiều muối citrate sẽ được thải ra trong nước tiểu, ngăn cản sự hình thành sỏi thận. 

2. Tránh ăn thực phẩm quá giàu oxalate, purine...: Các nhóm thức ăn có chứa nhiều gốc oxalate, purine hay nhiều đạm sẽ làm dễ hơn quá trình tạo ra sỏi thận như cải bó xôi, củ cải đường, sôcôla, đậu bắp, thịt nội tạng, thịt đỏ... Tránh uống quá nhiều vitamin C (viên canxi C), nước khoáng giàu carbonate... 

3. Dùng thêm thuốc hỗ trợ: Chủ yếu là lợi tiểu và thuốc chữa các bệnh có xu hướng dễ gây sỏi thận như bệnh gout, hội chứng chuyển hóa... Kim tiền thảo, mã đề, râu ngô… cũng để tăng lượng nước tiểu lên... 

4. Không hạn chế thực phẩm giàu canxi: Trước đây, khi phân tích thành phần hóa học của sỏi thận người ta thấy đa số là sỏi canxi-oxalate. Vì thế có ý kiến cho là phải hạn chế canxi trong thực phẩm để ngừa sỏi. Nhưng khá nhiều công trình khoa học nghiêm túc cho thấy quan niệm sai lầm. 

Canxi trong thực phẩm sẽ kết hợp với oxalate tạo thành phức hợp calcioxalate không hòa tan và không thể hấp thu vào máu, nên sẽ được thải theo phân ra ngoài và dĩ nhiên giúp ngừa sỏi thận. Tương tự, khi ăn quá nhiều oxalate mà không đủ lượng canxi tương ứng, oxalate được hấp thu vào máu sẽ thải ra thận cũng gây nguy cơ sỏi thận. 

Chú ý: Vitamin C (axit ascorbic) cũng có khả năng chuyển hóa thành gốc oxalate. Nếu chúng ta dùng thực phẩm giàu vitamin C (hơn 1000mg vitamin C/ ngày) nguy cơ chất oxalate trong máu sẽ cao và khả năng sỏi thận cũng lớn hơn. 


TS.BS Trần Bá Thoại 
Ủy viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam
Click đọc ngay…

Nguyên nhân sỏi đường tiết niệu

18:30 |
Sỏi niệu là bệnh khá phổ biến trên thế giới nhất là ở các vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam sỏi chiếm một tỉ lệ đáng kể, hay gặp ở lứa tuối trung niên từ 30-50 tuổi. Chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều đạm, hydratcarbon, natri oxalat..), nhiễm khuẩn tiết niệu là yếu tố thuận lợi để sỏi thận dễ phát sinh. 

Nguyên nhân sinh bệnh sỏi tiết niệu

Các nguyên nhân gây ra sỏi tiết niệu bao gồm: thể tích nước tiểu thấp, tăng canxi niệu, tăng oxalat niệu, tăng axit uric niệu, pH nước tiểu > 6.5, giảm bài tiết các chất ức chế như citrate, ứ đọng nước tiểu. 


Bên cạnh đó, rối loạn chuyển hóa đặc biệt là tăng canxi trong nước tỉểu (do hấp thu, do rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng tuyến cận giáp ) 

Sỏi canxi 

Thường gặp nhất là canxi oxalat 85%, dưới 20% là canxi photphat 

- Sự đáp ứng với vitamin D ở ruột bị rối loạn làm tăng hấp thu canxi vào máu đồng thời với sự suy giảm chức năng tuyến cận giáp. Kết quả là một lượng canxi được thải qua thận. 

-Tăng oxalat niệu: bình thường oxalate do thức ăn vào ruột kết hợp với calci niệu rồi theo phân ra ngoài. Ở những bệnh nhân này axit béo tăng lên trong ruột hút một lượng lớn canxi nên thành phần oxalat không kết hợp với canxi sẽ được hấp thu lại rồi bài tiết qua thận. 

- Sỏi canxi photphat thường thấy ở những bệnh nhân rối loạn tiêu hóa hay rối loạn hormon do bệnh cường cận giáp (hyperparathyroidism) và hiện tượng nhiễm toan ống thận. 

Sỏi urat 

Bệnh nhân bị bệnh goute không chỉ dễ bị sỏi urat mà cũng dễ bị sỏi oxalocanxi vì tăng axit uric niệu. Khi pH nước tiểu < 5.5 phần aixt uric không được phân ly khó tan sẽ tạo thành tinh thể axit uric. 

Sỏi struvit 

- Sỏi struvit là do nhiễm khuẫn lâu dài đường niệu, vi khuẩn giải phóng men urease, men này phân giải urê gây tổng hợp amoniac trong nước tiểu giảm, dẫn tới giảm hòa tan struvit tạo điều kiện hình thành sỏi. Sỏi này đứng hàng thứ ba, cấu tạo chủ yếu bởi các tinh thể photpho- amoniac-magne và photpho- canxi. 

Sỏi cystin 

Do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi. 

Các biểu hiện lâm sàng 

Sỏi có thể không triệu chứng khi không gây bế tắc như sỏi trong đài thận chỉ phát hiện một cách tình cờ khi chụp phim bụng hay làm siêu âm bụng. Những cơn đau dữ dội một cách tình cờ, hay sau lao động mạnh gắng sức, đau như dao đâm liên tục, đau một bên từ góc sườn sống lan về hông lưng rồi xuống bộ phận sinh dục ngoài, có những đợt giảm đau. 

Đôi lúc tính chất cơn đau và hướng lan không điển hình tùy theo vị trí sỏi. Cơn đau có thể kèm rối loạn tiêu hóa: nôn, buồn nôn, liệt ruột; rối loạn tiết niệu như đái rắt, đái ít, đái máu. 

Nguyên nhân đau thường là sỏi di chuyển từ trên đài bể thận xuống gây căng niệu quản và gây tăng áp lực trong lòng niệu quản hơn là co thắt. Có khi sỏi to di chuyển xuống làm tắc niệu quản gây ứ nước thận, thận căng to và đau dữ dội cả vùng trước và vùng sau hố lưng. 

Chẩn đoán cận lâm sàng 

– Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn nếu có nhiễm khuẩn. 

– Chụp X quang không chuẩn bị có thể thấy được sỏi, trong một số trường hợp phải chụp UIV trong trường hợp phát hiện sỏi không cản quang(urat). 

– Chụp niệu quản bể thận ngược dòng được thực hiện khi nguyên nhân bế tắc không xác định rõ. 

– Siêu âm bụng có thể phát hiện được sỏi thận với hình ảnh tăng độ siêu âm có bóng lưng đi kèm, vị trí sỏi, hình ảnh trương nở đài bể thận phía trên vị trí bế tắc. 

– Chụp cắt lớp điện toán giúp phân biệt sỏi không cản quang, máu cục hay bướu đường tiểu.

Xem thêm các bài liên quan:  

Click đọc ngay…

Sỏi tiết niệu dễ gây biến chứng nguy hiểm

14:24 |
Sỏi tiết niệu là hiện tượng kết sỏi ở hệ tiết niệu, bao gồm sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo... Đây là bệnh lý thường gặp, nếu để lâu ngày không điều trị tốt dễ gây nhiều biến chứng nghiêm trọng. 

Nguyên nhân gây sỏi tiết niệu 

Sỏi tiết niệu do nhiều nguyên nhân gây nên. Quá trình hình thành sỏi thường bắt nguồn từ các muối khoáng hòa tan trong nước tiểu. 

Khi có những rối loạn về mặt sinh lý bệnh học và có những yếu tố thuận lợi như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu hoặc có yếu tố di truyền thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh từ một nhân nhỏ rồi lớn dần thành sỏi. 


Những biến chứng thường gặp 

Sỏi thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp hay tắc nghẽn. Do đó những vị trí có sỏi thường là bể thận, niệu quản dưới hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo. 

Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì niêm mạc dễ bị phù nề, viêm là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập, gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, tiểu buốt, tiểu giắt, tiểu đục. 70% sỏi thường tập trung một nơi, chỉ có 30% nằm ở những vị trí khác nhau. 

Sự di chuyển của sỏi ở thận, niệu quản, bàng quang, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát, va chạm vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng và tiểu ra máu. Khi các đài thận bị căng trướng nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao, tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận thường do sỏi niệu quản. Khi sỏi kẹt trong niệu đạo hoặc ở bàng quang sẽ gây bí tiểu cấp tính hay mạn tính. 

Nếu nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Ngoài ra, viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn gây hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận cấp hoặc mạn tính. 

Điều trị thế nào? 

Sỏi tiết niệu là một bệnh lý phức tạp, thường gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy khi có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa thận tiết niệu để được tư vấn và có biện pháp điều trị phù hợp. 

Tuỳ tình trạng bệnh, có những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, tiểu ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận. 


BS. Vũ Minh
Click đọc ngay…