Bổ sung vitamin và khoáng chất cho người cao tuổi thế nào?

18:07 |
Dù với một lượng nhỏ nhưng vitamin (VTM) và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người, bởi nó là những chất xúc tác không thể thiếu trong quá trình chuyển hóa chất. 

Tuy nhiên, cơ thể không tự tạo ra VTM mà phải ăn vào từ thức ăn. Hơn nữa, các VTM không thể thay thế lẫn nhau. Hầu như tất cả chúng ta đều đang bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM. Đặc biệt, người cao tuổi (NCT) là đối tượng dễ thiếu VTM và khoáng chất hơn cả. 

Vai trò của vitamin và khoáng chất trong cơ thể 


Phần lớn các VTM hoạt động như một phức hợp hoạt hóa men, tham gia vào quá trình biến đổi dự trữ năng lượng trong cơ thể. Một số khác ảnh hưởng tới quá trình oxy hóa, nhiều loại có tác dụng cấu tạo nên hormon, tham gia vào quá trình tăng trưởng và khoáng hóa xương, hoạt động nhân lên của tế bào, tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, tổng hợp các chất trung gian của hệ thần kinh, đào thải, trung hòa các chất độc, làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể. 

Ví dụ, VTM tham gia vào hoạt động thị giác, giữ gìn chức phận của tế bào biểu mô trụ. Vitamin C có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cơ thể, làm bền vững thành mạch. Sắt có mặt trong mọi tế bào và rất cần thiết trong việc duy trì sự khỏe mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Hầu hết chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin-2 tế bào protein máu đỏ có nhiệm vụ vận chuyển ôxy đến các mô và cơ trong cơ thể. 

Vì sao người cao tuổi dễ bị thiếu vitamin và khoáng chất? 

Hầu như tất cả chúng ta đều bị thiếu hụt 1 hay nhiều loại VTM và khoáng chất, đặc biệt NCT dễ thiếu nhiều loại VTM. Thiếu VTM có thể do những nguyên nhân sau: do thiếu ăn, chất lượng lương thực thực phẩm không đảm bảo, quá trình bảo quản, chế biến không đúng. 

Do chất đất và nguồn nước từng khu vực; chế độ ăn kiêng, nghiện rượu, những người nghiện rượu thường bị thiếu B1 trầm trọng; rối loạn hấp thu, thường thấy ở người mắc bệnh đường tiêu hóa, NCT, do nhu cầu cơ thể tăng nhưng cung cấp không đủ... 

Một số bệnh do thiếu vitamin và khoáng chất 

Mặc dù trong cơ thể, VTM và khoáng chất chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra những rối loạn, phát sinh bệnh tật. Ví dụ, thiếu VTM A gây quáng gà, thiếu VTM C sẽ giảm sức đề kháng, gây chứng chảy máu dưới da, thiếu VTM B1 gây phù, thiếu VTM B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh; thiếu canxi gây co giật tay chân hay thiếu kali gây loạn nhịp tim; thiếu sắt gây thiếu máu. Các biểu hiện của thiếu sắt như: cơ thể yếu và mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, rụng tóc, đau đầu, móng yếu, dễ gãy... 

Làm gì để phòng thiếu vitamin và khoáng chất ở NCT? 

Các VTM và khoáng chất được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống hằng ngày. Nếu cơ thể khỏe mạnh, hấp thu tốt và bữa ăn phong phú, đa dạng thì không sợ thiếu các chất này. Vì vậy, để phòng ngừa thiếu VTM và khoáng chất, cần ăn uống thức ăn có đủ VTM và khoáng chất cần thiết cho cơ thể như ăn đa dạng các loại rau, củ, quả, thịt, cá, tôm, cua... 

Cần chế biến thức ăn mềm, dễ tiêu như súp hoặc xay nhuyễn hay ép dưới dạng sinh tố. Tuy nhiên, hầu hết các VTM B và C tan trong nước nên mặc dù có nhiều trong thức ăn nhưng qua quá trình bảo quản và chế biến sẽ mất đi rất nhiều. Cơ thể không dự trữ các VTM này vì chúng tan trong nước nên bị đào thải ra ngoài qua nước tiểu. VTM B12 là một ngoại lệ, được dự trữ tại gan. 

VTM tan trong dầu được hấp thu và vận chuyển cùng với mỡ. Cơ thể dự trữ các VTM này chủ yếu ở gan và mô mỡ. Vì vậy, khi cơ thể hấp thu quá nhiều các VTM này sẽ xảy ra hiện tượng ngộ độc. 

Đối với người già bệnh nặng kéo dài, sức khỏe suy giảm..., nên bổ sung các VTM và khoáng chất dưới dạng thuốc để đáp ứng nhu cầu VTM, chất khoáng của cơ thể. Tuy nhiên, bổ sung loại VTM hay khoáng chất nào, liều lượng cần bổ sung bao nhiêu và uống trong thời gian bao lâu... cần được bác sĩ thăm khám và chỉ định. 

Nên nhớ mỗi loại VTM này khi bị thiếu không thể thay thế lẫn nhau. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở những người độ tuổi trung bình 48 - 78 tuổi thì sau 4 - 10 tuần bổ sung VTM và khoáng chất có cải thiện rõ rệt về sức khỏe như: giảm được mệt mỏi, tập trung tư tưởng tốt hơn, ăn ngon miệng hơn, dễ ngủ và thời gian ngủ kéo dài hơn... 


BS. Phạm Minh Nguyệt
Click đọc ngay…

Những lưu ý khi dùng kháng sinh cho người cao tuổi

10:15 |
Dùng kháng sinh cho người cao tuổi phải hết sức thận trọng. Ở hầu hết người cao tuổi, mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm dần theo năm tháng, kể cả hệ thống miễn dịch. Dùng kháng sinh cho người cao tuổi phải hết sức thận trọng. 

Ở hầu hết người cao tuổi, mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm dần theo năm tháng, kể cả hệ thống miễn dịch. Trong suốt cuộc đời người nào cũng có ít nhiều đợt bị nhiễm khuẩn dù nặng hay nhẹ và mỗi lần như vậy có thể phải dùng một loại kháng sinh nào đó, đến khi đã có tuổi mà mắc bệnh phải dùng lại thì có nhiều loại kháng sinh sẽ mất hoặc giảm hẳn tác dụng (chưa kể có khi còn gây nguy hiểm), nhất là tình trạng sức khỏe, khả năng đáp ứng của cơ thể không được như lúc còn trai tráng. 



Những trở ngại khi dùng kháng sinh

Do đặc điểm sinh lý cơ thể của người cao tuổi cho nên có nhiều điều bất lợi khi người cao tuổi dùng thuốc kháng sinh. Khi dùng thuốc kháng sinh bằng đường uống, khả năng hấp thu thuốc ở đường tiêu hóa giảm làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị (bệnh khỏi chậm hoặc không khỏi). 

Mức độ hấp thu giảm nhiều hay ít còn tùy thuộc vào mức độ lão hóa của từng người. Mức độ gắn protein vào huyết tương cũng giảm. Khi kháng sinh gắn vào protein huyết tương giảm làm xuất hiện hiện tượng kháng sinh lưu hành dưới dạng tự do và sẽ gây độc cho cơ thể. 

Sự phân phối thuốc kháng sinh trong cơ thể người cao tuổi cũng có nhiều thay đổi, hiện tượng này tùy thuộc vào tính chất của từng loại thuốc kháng sinh và trạng thái bệnh lý của từng người. Ví dụ khi người cao tuổi bị viêm thận mà dùng gentamicin thì thuốc sẽ gắn nhiều vào hồng cầu làm lượng gentamicin tăng cao trong huyết tương có thể gây thiếu máu và một số tai biến khác. 

Việc đào thải thuốc kháng sinh qua đường thận cũng sẽ giảm, nhất là các loại thuốc thuộc nhóm beta-lactam, amynoglycoside, sulfamide, co-trimoxazol... do người cao tuổi có hiện tượng suy giảm nephron kéo theo suy giảm chức năng của thận. 

Ngoài ra, ở người cao tuổi thường hay bị thiếu vitamin K. Loại vitamin này thường do một số tạp khuẩn đường ruột tổng hợp nên nhưng do dùng các thuốc kháng sinh đào thải qua đường tiêu hóa sẽ tiêu diệt một số vi khuẩn sinh vitamin K làm cho người cao tuổi thiếu đi một lượng vitamin K, giảm kali máu, đặc biệt là những người dùng thuốc nhuận tràng kéo dài. 

Mặt khác một số vi khuẩn đường ruột có khả năng giáng hóa digoxin ở ống tiêu hóa, nếu dùng kháng sinh đào thải qua đường ruột quá nhiều sẽ làm tăng hấp thu digoxin và làm cho nồng độ digoxin trong huyết tương tăng cao nên độc tính cũng tăng theo. Một số thuốc có ảnh hưởng đến chức năng của gan như sulfamid, lincomycin, clindamycin, nhóm quinolon khi dùng cho người cao tuổi có chẩn đoán bị suy gan thì nên thận trọng. 



Những loại kháng sinh cần lưu ý khi sử dụng 

Một số kháng sinh có chứa Na+, K+ tuy hàm lượng thấp nhưng do dùng liều cao và thời gian dài như carboxypenicillin, penicillin có thể gây độc cho người bệnh. Nhóm aminoglycoside gây độc cho thận, cơ quan thính giác nên khi dùng cho người cao tuổi phải được theo dõi cẩn thận. 

Một số thuốc kháng sinh như carbenicillin, colistin có khả năng làm giảm kali máu cho nên cần thận trọng khi dùng kết hợp với các thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu, thuốc glycoside trợ tim... Nên hạn chế dùng (hoặc chỉ dùng khi thật cần thiết) đối với nhóm chloramphenicol, rifamicin, nitrofurantoin. 

Khi nào dùng thuốc? 

Trong mọi trường hợp kháng sinh chỉ được dùng khi người thầy thuốc khám bệnh xác định là có bệnh nhiễm trùng bởi vi khuẩn hoặc mắc bệnh nhiễm virut nhưng có bội nhiễm vi khuẩn. Việc dùng kháng sinh nào là hoàn toàn do bác sĩ khám bệnh quyết định trên cơ sở biết được chắc chắn vi khuẩn gì, kết quả của thực nghiệm kháng sinh đồ là điều lý tưởng nhất, nếu không sẽ dựa vào phác đồ điều trị của Bộ Y tế ban hành (bởi vì mỗi cơ thể và mỗi một bệnh nhiễm khuẩn có thể dùng một loại kháng sinh khác nhau). 

Để hạn chế vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh ngay từ đầu nên dùng kháng sinh phổ hẹp. Để tránh xảy ra hiện tượng dị ứng nên hỏi kỹ người bệnh về tiền sử sử dụng thuốc kháng sinh và cho làm phản ứng trước lúc sử dụng. Nên dùng kháng sinh sớm khi đã có chẩn đoán lâm sàng. Nên tránh các thuốc kháng sinh có ảnh hưởng đến chức năng của thận, nếu bắt buộc phải dùng thì cần giảm liêu. 


PGS.TS. Bùi Khắc Hậu (Đại học Y Hà Nội)
Click đọc ngay…