Bé đi ngoài xì xoẹt, hoa cà hoa cải: xử trí thế nào?

17:04 |
Bé đi ngoài xì xoẹt ngày 6-7 lần, phân ra toàn bọt, hoa cà hoa cải, “đánh hơi” cũng ra kèm chút nước vàng… khiến các bà mẹ lo lắng. Tình huống bí bách, cho con uống đủ loại men vi sinh, thậm chí cả kháng sinh, thuốc cam vẫn không hiệu quả, nhiều trường hợp còn gây ngộ độc nguy kịch. 

Bé đại tiện 6 - 7 lần một ngày có phải đi ngoài? 

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi BV Bạch Mai cho biết, câu hỏi ông nhận được nhiều nhất ở các bà mẹ vừa sinh con là: “Vì sao bé lại đi ngoài hoa cà hoa cải, xì xoẹt 5 - 7 lần ngày”, “Bé đi ngoài toàn bọt, có phải sữa mẹ nóng không”, “Bé đánh hơi cũng ra nước vàng, tè cũng ra tí ở hậu môn”, “Sao dùng men tiêu hóa, thậm chí kháng sinh rồi mà con vẫn không khỏi”… 

Trẻ đi ngoài xì xoẹt, phân hoa cà hoa cải khiến mẹ rất lo lắng

Theo BS Dũng, sự băn khoăn của các bà mẹ là dễ hiểu bởi trong suy nghĩ của họ, trẻ như vậy là bị đi ngoài và cần điều trị. 

“Nói theo sách vở, người lớn, trẻ lớn bình thường ngày đi đại tiện một lần và cho là tiêu chảy nếu đi ngoài đi từ 3 lần trở lên trong một ngày. Nhưng với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì hoàn toàn khác, áp theo định nghĩa này sẽ hoàn toàn sai. Đặc biệt ở nhóm trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ đang bú mẹ lại càng không đúng. Ở nhóm trẻ đang bú mẹ này, không ăn thêm thức ăn nào khác thì có cháu đi một ngày 5-7 lần, phân đôi khi có nước, hoa cà, hoa cải, bọt cũng hoàn toàn bình thường, không phải bị tiêu chảy”, TS Dũng khẳng định. 

TS Dũng cho biết, ở mỗi trẻ có tần số đi ngoài khác nhau, có trẻ 1 lần/ngày, trẻ 3 – 4 lần, có trẻ 5 – 7 lần nhưng nếu trẻ không sốt, bú bình thường, ngủ bình thường, vẫn lên cân thì cha mẹ hoàn toàn yên tâm, không cần can thiệp xét nghiệm, không cần uống men tiêu hóa mà chính đường tiêu hóa của trẻ sẽ tự điều chỉnh dần. Bởi việc uống men, kháng sinh, hay thuốc cam như dân gian hay dùng vẫn không thể giảm được số lần đi ngoài của trẻ. 

TS Dũng dẫn chứng một trường hợp bệnh nhi 2 tháng tuổi Nguyễn Duy Anh (Hợp Châu, Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đang điều trị tại khoa vì ngộ độc chì. Trước đó, sau sinh bé có hiện tượng đi ngoài bọt liên tục 5 – 6 lần/ngày nên mẹ bé đã mua men tiêu hóa cho con uống liền trong 10 ngày nhưng bé vẫn đi ngoài bọt với số lần như trên, không hề giảm. Tiếp đó, mẹ bé mua thuốc cam, pha nước cho con uống, mẹ ăn bã để chữa đi ngoài, nhưng sau ba ngày dùng thuốc tình trạng đi ngoài bọt của bé vẫn giữ nguyên. 

“Điều đó chứng tỏ mọi cố gắng can thiệp vào sinh lý bình thường của trẻ là không cần thiết và không hiệu quả. Chúng ta không thể dùng men tiêu hóa, kháng sinh, thuốc cam… để “chỉnh” cho bé thay vì đi ngoài xì xoẹt ngày 5 – 7 lần xuống còn 1 – 2 lần. 

Điều đó là không cần thiết vì đó là sinh lý bình thường của trẻ, trẻ vẫn ăn, vẫn lớn. Còn can thiệp vừa không hiệu quả vừa gây hậu quả cho bé, khiến bé từ đứa trẻ bình thường, lành lặn, khỏe mạnh trở thành đứa trẻ ốm yếu, có nguy cơ ảnh hưởng sự phát triển trí tuệ như bệnh nhi trên bởi mẹ cho bé uống thuốc cam và bị ngộ độc chì”, TS Dũng nói. 

Không tự ý dùng thuốc cho trẻ nếu không cần thiết

TS Dũng cũng thẳng thắn thừa nhận, không chỉ các bà mẹ hiểu không đúng về hiện tượng đi ngoài nhiều của trẻ, nghĩ rằng trẻ bị rối loạn tiêu hóa mà nhiều bác sĩ cũng có sự nhầm lẫn này. Bởi hiện nay, các bác sĩ nhi không được đào tạo từ đầu chí cuối như trước mà đa phần từ đa khoa chuyển sang học thêm nhi. Từ đó, các em vẫn mang những kiến thức của đa khoa sang, nguy hiểm vì khám trẻ như khám cho người lớn, trong khi trẻ không phải là người lớn thu nhỏ. 

Thêm loạn khuẩn đường ruột vì thuốc 

Vì hiểu sai về tiêu chảy, rối loạn ở trẻ em, nhiều người mang phân con đi xét nghiệm để rồi hoảng hồn cầm trên tay kết quả xét nghiệm có dương tính với nấm, chắc mẩm con mình bị tiêu chảy do nấm và uống kháng sinh. 

“Phải hiểu rằng, trong phân luôn có nấm, vấn đề là xác định nấm đó có gây bệnh không, nếu không mà cứ cho thuốc chống nấm thì rất nguy hiểm vì đây là sinh lý bình thường của trẻ bú mẹ. Mà để xác định nấm đó có phải là nguyên nhân gây ra tình trạng của con, người bác sĩ không chỉ dựa vào kết quả xét nghiệm mà phải khám tổng thể đứa trẻ, xem trẻ có ăn, ngủ, lớn bình thường không rồi mới quyết định. Các bà mẹ không hiểu bản chất cứ thấy nấm rồi vội chữa là hoàn toàn sai. Càng uống nhiều loại thuốc càng hại người, cả men, kháng sinh khi uống không đúng chỉ định đều gây loạn khuẩn đường ruột”, TS Dũng nói. 

Hay như với nhiều người, sau khi dùng tây y không đỡ thì chuyển sang Đông y, sử dụng thuốc cam mà không biết nó có chứa chì hay không, nhiều trường hợp trong số đó, tiền mất và mang lại tật cho con vì ngộ độc chì. Vì thế, khi con có những dấu hiệu đường tiêu hóa trên hay bất cứ các dấu hiệu gì khác mà người mẹ cảm thấy không bình thường, bất an hãy nên đưa trẻ đi khám bác sĩ. Bác sĩ là người phân tích, tổng hợp các triệu chứng để đưa ra chẩn đoán trẻ bị bệnh hay chỉ là sinh lý bình thường, tuyệt đối không tùy tiện dùng thuốc cho trẻ, tránh dẫn đến tiền thì mất, tật mang thêm.
Click đọc ngay…

Sốt phát ban dạng sởi, bệnh dễ nhầm

13:02 |
Hiện nay bệnh sởi đã bùng phát ở một số địa phương tại nước ta và một số nước khác trên thế giới. Một thuật ngữ được các nhà khoa học hay dùng bên cạnh bệnh nhân bị mắc bệnh sởi là sốt phát ban dạng sởi. 

Sốt phát ban dạng sởi thường được đề cập đến là bệnh sởi rubella, còn được gọi là bệnh sởi đức hay bệnh rubeol. Cần quan tâm đến bệnh này để phân biệt và xử trí phù hợp. 

Trên thực tế, bệnh sởi đức (german measle) không có liên quan gì đến nước Đức (German) mà chúng chỉ có nguồn gốc từ tiếng Latin “germanus” có nghĩa là tương tự với ý nghĩa mô tả bệnh rubella, bệnh rubeol có một số biểu hiện lâm sàng giống như bệnh sởi. 


Các thể bệnh lâm sàng 

Bệnh sởi đức diễn biến trên lâm sàng với 2 thể bệnh là thể thông thường và thể có biến chứng. Thể thông thường có 3 dấu hiệu sốt, nổi hạch, phát ban ngoài da và niêm mạc. 

Bệnh nhân sốt nhẹ dưới 38,5oC và hết sốt khi có phát ban. 

Triệu chứng phát ban không phải trường hợp nào cũng có, nếu bị phát ban thì thường nổi ban đỏ ở mặt trước và sau 24 giờ mới có ở toàn thân. Ban đỏ dạng sởi nhưng không để lại vết thâm và thường hết sau 3 ngày. Ban dạng nốt xuất huyết có thể ở niêm mạc vòm miệng, niêm mạc mắt, niêm mạc mũi. 

Thể có biến chứng hay gặp ở nam giới, trên đối tượng người lớn và thanh niên với các biến chứng khác nhau. Biến chứng viêm đa khớp thường xảy ra vào ngày thứ hai dễ nhầm lẫn với đợt thấp khớp dạng thấp tiến triển nhưng chúng tự khỏi sau từ 15 - 30 ngày và không để lại di chứng. 

Biến chứng tử ban với dấu hiệu nốt xuất huyết dưới da sau để lại vết thâm do hạ tiểu cầu nhưng rất hiếm; bệnh khỏi sau từ 2 - 4 tuần; dùng thuốc corticoides có thể có tác dụng, ít trường hợp phải truyền tiểu cầu. 

Biến chứng viêm não-mạng não hiếm gặp, thường xảy ra từ 2 - 4 ngày đầu sau khi nổi ban; có 3 dấu hiệu của viêm màng não như: đau đầu, nôn, cổ cứng và kèm theo dấu hiệu tổn thương não như rối loạn ý thức, liệt tay chân, rối loạn điều hòa vận động chân tay. 

Ngoài ra, còn có thể bệnh sởi đức hay bệnh rubella bẩm sinh có thể phát hiện sau khi trẻ sinh ra hoặc vài năm sau mới xuất hiện với các triệu chứng như: tổn thương mắt, đục thủy tinh thể hai bên, đục giác mạc, tai điếc, tổn thương thần kinh, chậm phát triển tinh thần, não bộ bé lại... 

Phân biệt với bệnh sởi 

Bệnh sởi đức hay bệnh sởi rubella, bệnh rubeol thường phát triển mạnh vào mùa đông xuân và xuất hiện từ nhiều năm nay ở nước ta nhưng ít được chú ý phát hiện do thời điểm bùng phát của chúng trùng hợp với thời gian phát triển bệnh sởi và thường được thống kê chung vào bệnh sởi hay sốt phát ban dạng sởi. 

Bệnh có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, sau thời gian ủ bệnh từ 12 - 23 ngày sẽ khởi phát với triệu chứng sốt nhẹ; còn những triệu chứng ho, chảy nước mắt và mũi, đi tiêu chảy... hầu như không phát hiện được. Khi bệnh toàn phát mới xuất hiện rõ các dấu hiệu: mệt mỏi, sốt, chảy nước bọt ở miệng và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. 

Nếu bệnh nhân là trẻ em thì trẻ ít khi nằm li bì; có dấu hiệu sung huyết ở mắt, da mặt, hạch sưng to ở dọc hai bên cổ và không đau. Các nốt ban đỏ nổi trên da dưới dạng những chấm đỏ mọc rải rác không theo tuần tự như ở bệnh sởi và bệnh nhân có thể thấy đau khớp. 

Khi bệnh lui thường người bệnh hết sốt, nốt ban đỏ bay nhanh không theo quy luật tuần tự như lúc mọc ban đầu và không để lại các dấu vết ở trên da, triệu chứng sưng hạch mất đi và trở về bình thường muộn hơn thường sau một tuần. 

Thực tế cho thấy, hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh sởi đức hay sởi rubella hiện nay thường xảy ra ở người lớn trẻ tuổi chưa có miễn dịch nhiều hơn là trẻ em. Các nhà khoa học ước tính có khoảng 10% số người lớn trẻ tuổi dễ mẫn cảm đối với bệnh, đặc biệt là phụ nữ có thể gây nguy hiểm cho những đứa con của họ ở vào một thời điểm nào đó khi mang thai. 

Đối với bệnh sởi, bệnh thường gặp ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên. Sau thời gian ủ bệnh từ 7 - 10 ngày, bệnh khởi phát trong vòng từ 2 - 3 ngày với các triệu chứng như sốt đột đột trên 38oC, chảy nhiều nước mắt làm mắt ướt lèm nhèm, chảy nước mũi và tiêu chảy... 

Khi bệnh toàn phát thì có triệu chứng sốt cao từ 38,5 - 39oC; bệnh nhân li bì, mệt mỏi; các ban đỏ của sởi mọc ở da nổi dày, mịn, xuất hiện ở sau tai, lan ra mặt, xuống cổ, thân mình và tứ chi trong vòng 1 - 2 ngày. Bệnh sẽ lui dần khi hết sốt, nốt ban đỏ bay mất dần theo trình tự mọc lúc ban đầu và thường để lại những vết thâm ở trên da. 

Đặc biệt, bệnh sởi thường để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc thoái lui như: viêm phổi, viêm phế quản, tiêu chảy mất nước... có thể dẫn đến tử vong nhất là trẻ em dưới 1 tuổi. Ngoài ra, biến chứng viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi, suy dinh dưỡng, viêm loét giác mạc, nhiễm lao và các bệnh nhiễm trùng khác... cũng được ghi nhận. 

Tiêm phòng là cách hữu hiệu phòng chống sốt phát ban

Phòng bệnh hơn chữa bệnh 

Ngoài các loại vắc-xin đơn giá phòng bệnh sởi và sởi rubella riêng biệt, thị trường hiện tại đã có những loại vắc-xin phối hợp phòng bệnh sởi, quai bị và rubella khá tiện dụng. 

Vắc-xin phối hợp sởi - quai bị - rubella có các loại như: vắc-xin MMR II (measle-mumps-rubella) là vắc-xin sống giảm độc lực với thời gian bảo vệ hơn 11 năm, vắc-xin Trimovax với thời gian bảo vệ hơn 10 năm. Vắc-xin MMR II được chỉ định tiêm cho trẻ từ 15 tháng tuổi trở lên, nên tiêm liều thứ hai bằng vắc-xin MMR II hoặc vắc-xin đơn giá. 

Tại những vùng mà bệnh sởi xuất hiện với tỉ lệ cao ở trẻ dưới 15 tháng tuổi thì có thể tiêm sớm hơn. Trẻ được tiêm vắc-xin khi chưa được 12 tháng tuổi thì cần được tiêm nhắc lại sau khi được 15 tháng tuổi. Hầu hết trẻ em từ 12 -14 tháng tuổi đã có đáp ứng miễn dịch nhưng có thể tiêm liều nhắc lại khi trẻ đến tuổi đi học hoặc muộn hơn. 

Những trẻ em chưa được tiêm vắc-xin sinh ra từ người mẹ mang thai mẫn cảm cần được tiêm vắc-xin rubella sống giảm độc lực. Những trẻ em cảm thụ với một hoặc nhiều bệnh của vắc-xin, cần được tiêm loại vắc-xin đơn giá sởi, quai bị, hoặc rubella hay một vắc-xin phối hợp phù hợp. 

Tuy nhiên trên thực tế, vắc-xin MMR II thích hợp đối với những người cảm thụ bệnh quai bị, rubella và sởi. Nếu không có vắc-xin đơn giá thì nên dùng vắc-xin phối hợp MMR II. Vắc-xin được tiêm vào dưới da và thường tiêm vào mặt ngoài phía trên của cánh tay, không được tiêm vào mạch máu. 

Vắc-xin này tiêm phòng giống nhau cho tất cả mọi lứa tuổi và đối tượng với liều 0,5ml vắc-xin đã hồi chỉnh. Cần chú ý không tiêm globulin miễn dịch đồng thời với tiêm vắc-xin MMR II. 

Vắc-xin Trimovaxđược chỉ định tiêm phòng sởi, quai bị, rubella cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Đối với những trẻ em ở môi trường đặc biệt như ở các trung tâm chăm sóc trẻ em thì có thể tiêm từ lúc 9 tháng tuổi. Thông thường tiêm một liều 0,5ml cho trẻ em từ 12 - 15 tháng tuổi. 

Tuy vậy đối với trẻ em tiêm mũi đầu tiên trước khi được 12 tháng tuổi thì nên tiêm một liều thứ hai sau mũi tiêm đầu tiên khoảng 6 tháng, nhất là những trẻ em sống trong môi trường đặc biệt. 

Vắc-xin MMR II hay vắc-xin Trimovax có thể nói là loại vắc-xin “3 trong 1” dùng để phòng ngừa được cả 3 bệnh sởi, quai bị và sởi rubella khá thuận lợi. 

Hiện nay, bệnh sởi đức hay sởi rubella và bệnh sởi thông thường có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin phòng bệnh. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, đó là biện pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho cá nhân lẫn cộng đồng mà người dân cần phải đặc biệt quan tâm. 


TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH 
Theo suc khoe doi song
Click đọc ngay…

Nhận biết và chăm sóc trẻ bị sốt phát ban tại nhà

10:42 |
Sốt phát ban (SPB) là bệnh rất thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 - 36 tháng tuổi. Đây là giai đoạn trẻ có sức đề kháng rất kém vì lượng kháng thể tự nhiên của mẹ truyền cho trẻ đã giảm xuống đáng kể trong khi hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện. 

Một trẻ có thể bị sốt phát ban ít nhất là một lần, thậm chí nhiều lần tùy theo tình trạng sức khỏe và nguyên nhân gây bệnh. Hầu hết những nguyên nhân gây sốt phát ban cho trẻ là những virút lành tính, nếu được chăm sóc tốt bệnh có thể tự lành sau 5 - 7 ngày.   


Nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết trẻ bị sốt phát ban 

SPB là bệnh rất dễ lây nhiễm,nhất là trong môi trường có tính tập thể như nhà trẻ, trường học, trường mẫu giáo vì bệnh lây chính yếu qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi làm văng những giọt nước li ti, người lành hít phải sẽ bị nhiễm bệnh. 

Sốt phát ban hầu hết là do nhiễm vi rút (70 - 80%), trong đó virút đường hô hấp luôn chiếm đa số bao gồm virút sởi, virút gây bệnh rubella, adeno virút, echo virút, nhóm entero virus…Đây chính là lý do tại sao trẻ có thể bị SPB nhiều lần. 

Sốt phát ban do vi rút sởi và virút gây bệnh rubella là 2 nguyên nhân thường gặp. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, bệnh rubella gọi là ban đào. Biểu hiện chung của SPB là sau thời gian ủ bệnh trung bình khoảng một tuần, trẻ thường bị sốt, trẻ có thể sốt nhẹ (37,5oC - 38oC) hoặc sốt cao (39oC - 40oC) tùy theo thể trạng và nguyên nhân gây bệnh. 

Khi bớt sốt sẽ xuất hiện hồng ban trên người với tính chất đặc thù của từng bệnh, cụ thể: 

Ban do virút sởi (ban đỏ): khởi bệnh trẻ thường bị sốt, khi dấu hiệu sốt giảm sẽ xuất hiện dấu hiệu phát ban, lúc đầu ở sau tai sau đó lan ra mặt, rồi lan dần xuống ngực bụng và ra toàn thân. Khi ban sởi biến mất cũng mất dần theo thứ tự đã nổi trên da, đặc điểm ban sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da rất đặc trưng thường gọi là “vằn da hổ”. 

Ngoài ra một số triệu chứng kèm theo như chảy nước mũi, ho hay đỏ mắt. Virút sởi có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho trẻ nhất là biến chứng viêm phổi và viêm não do virút. 

Ban do virút rubella (ban đào): phát ban lúc đầu ở mặt sau đó lan xuống dưới chân, thời gian phát ban thường kéo dài khoảng 3 ngày. Ban do rubella thường dày hơn và có màu nhạt hơn ban sởi, có thể kèm theo tình trạng sưng hạch sau tai, hạch cổ và dưới chẩm,bệnh nhân có thể bị đau khớp. Virút gây bệnh rubella khá lành tính đối với trẻnhưng lại rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai. 

Chú ý vệ sinh cho trẻ, không cần kiêng nước, kiêng gió, kiêng ăn

Nguyên tắc chăm sóc trẻ bị sốt phát ban tại nhà 

Hạ sốt đúng cách cho trẻ: nếu trẻ sốt từ 38oC cho trẻ uống thuốc hạ sốt loại paracetamol loại đơn chất với liều 10 - 15mg/kg cân nặng, 4 - 6 giờ một lần. Lau mát cho trẻ bằng nước ấm khi cần, để tránh biến chứng sốt cao co giật ở trẻ. 

Giảm ho, giảm đau họng cho trẻ: khi trẻ ho nên cho trẻ uống các loại thuốc ho có nguồn gốc thảo dược như rau tần dầy lá, tắc chưng với đường phèn, gừng hấp mật ong… 

Làm thông mũi trẻ bằng nước muối loãng và khăn giấy mềm: giúp trẻ dễ ăn uống và bú sữa mẹ. 

Cho trẻ ăn thức ăn lỏng, mềm dễ tiêu hóa và bổ sung đủ nguồn nước uống cho trẻ. 

- Cho trẻ ăn thức ăn lỏng,giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa như cháo, súp, sữa… Trẻ ăn uống quá khó khăn phụhuynh nên chia nhỏ bữa ăn để giúp trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng cần thiết. 

- Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường, nhất là những loại nước ép trái cây tươi để đảm bảo việc cung cấp đủ nguồn vitamin cho cơ thể, cải thiện sức đề kháng. 

- Đặc biệt những trẻ bị nhiễm sởi cần chú ý việc bổ sung vitamin A với liều lượng phù hợp theo lứa tuổi để bảo vệ đôi mắt cho trẻ. 

Giữ vệ sinh da luôn sạch và khô thoáng: qua việc tắm rửa cho trẻ sạch sẽ mỗi ngày, không nên kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn.  

- Thói quen kiêng gió, kiêng nước bằng cách trùm kín trẻ, không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó hạ sốt và dễ co giật do sốt cao. Không vệ sinh cơ thể sẽ làm trẻ khó chịu và dễ nhiễm trùng da và biến chứng viêm phổi. Tuy nhiên, không nên để trẻ bị lạnh. 

- Kiêng ăn sẽ làm cho trẻ rất dễ bị suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm trùng. Ngược lại, nên cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, ăn thành nhiều bữa, ăn thức ăn dễ tiêu. 

Phát hiện sớm dấu hiệu bệnh trở nặng để cho trẻ nhập viện kịp thời: trẻ bị sốt phát ban được chăm sóc tại nhà sẽ được hướng dẫn tái khám theo hẹn mỗi ngày hoặc 2 ngày một lần tùy theo tình trạng bệnh của trẻ. Phụ huynh cần cho trẻ đến khám lại ngay khi phát hiện trẻ có những dấu hiệu sau: 

- Trẻ bị sốt cao không hạ sau khi đã phát ban. 

- Thay đổi tri giác: lừ đừ,ngủ li bì, hôn mê. 

- Trẻ bị co giật. 

- Trẻ thở mệt, thở nhanh, khó thở. Phương pháp phòng ngừa bệnh sốt phát ban cho trẻ 

- Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân bị nghi ngờ đang mắc bệnh, cách này rất khó vì trẻ bệnh có thể lây cho trẻ khác ngay khi chưa có biểu hiện phát ban. 

Cách phòng ngừa tốt nhất là chủng ngừa: Sởi có thể chích ngừa khi trẻ được 9 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Rubella được chích chung với quai bị và sởi bằng vắc-xin 3 trong 1 khi trẻ được 12 tháng - 15 tháng tuổi và tiêm nhắc liều thứ 2 khi trẻ được 4 tuổi - 6 tuổi. 


Click đọc ngay…

Trẻ dậy thì sớm, cần nhận biết và điều trị sớm

09:29 |
Trẻ dậy thì sớm sẽ gây ra những vấn đề liên quan đến sức khỏe, cấu trúc xương… ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của trẻ. Vậy nguyên nhân nào gây dậy thì sớm. Việc điều trị và phòng ngừa như thế nào? 

Bước vào tuổi dậy thì, một quá trình phức tạp được gọi là điều chỉnh trục dưới đồi-tuyến yên-sinh dục (HPG) sẽ xảy ra. Quá trình này bao gồm các bước sau: 

Não bắt đầu quá trình: một phần của não gọi là vùng dưới đồi sản xuất gonadotropin-releasing hormon (Gn-RH). 

Các hormon tuyến yên tiết ra thêm: Gn-RH chỉ huy tuyến yên - một tuyến hình nhỏ đậu của bộ não - tiết ra thêm hai kích thích tố: luteinizing hormon (LH) và hormon kích thích nang trứng (VSATTP). 


Hormon sinh dục được sản xuất: LH và FSH làm cho buồng trứng sản xuất kích thích tố tham gia vào sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nữ (estrogen) và tinh hoàn để sản xuất hormon chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nam (testosteron). Các tuyến thượng thận cũng bắt đầu sản xuất estrogen và testosteron. 

Thay đổi vật lý xảy ra: việc sản xuất estrogen và testosterone gây ra những thay đổi vật lý của tuổi dậy thì. 

Nguyên nhân gây dậy thì sớm 

Tuổi dậy thì thường bắt đầu ở trẻ em gái ở độ tuổi từ 8 và 12 và ở các bé trai ở độ tuổi từ 9 và 14. Tuổi dậy thì sớm là tuổi dậy thì bắt đầu trước 8 tuổi (đối với bé gái) và trước 9 tuổi (đối với bé trai). Phân loại dậy thì sớm người ta chia làm hai loại là dậy thì sớm trung ương (trung tâm) và ngoại vi. 

Dậy thì sớm trung ương: là do nồng độ GnRH tăng cao từ sự hoạt động quá sớm của trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục. 

Trong trường hợp hiếm hoi, những điều sau đây có thể gây dậy thì sớm trung ương: khối u trong não hoặc tuỷ sống, viêm não hay viêm màng não; Bức xạ vào não hay cột sống; Sự tắc nghẽn gây thiếu máu cục bộ não, suy giáp (tuyến giáp không sản xuất đủ hormon). 

Các bệnh lý bẩm sinh của hệ thần kinh trung ương (não úng thuỷ, các kytse màng nhện, loạn sản vách-thị, harmatome...); Hội chứng McCune-Albright-Tăng sản thượng thận bẩm sinh (một nhóm các rối loạn di truyền liên quan đến sản xuất nội tiết tố bất thường của tuyến thượng thận)... 

Ngoài ra, thể không hoàn toàn chỉ có một đặc tính sinh dục phụ xuất hiện như: tuyến vú phát triển đơn độc, hay lông mu phát triển sớm đơn độc, hoặc kinh nguyệt xuất hiện sớm đơn độc... 

Dậy thì sớm ngoại vi: dậy thì sớm ngoại vi là ít phổ biến hơn so với dậy thì sớm trung ương. 

Nguyên nhân không phải do tăng nồng độ GnRH, mà các hormon steroids sinh dục tăng cao do bệnh lý tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) hay thượng thận, một số trường hợp đặc biệt có thể do bài tiết lạc chỗ các hormon hướng sinh dục, có thể do nguồn hormon ngoại sinh quá mức. 

Cả bé gái và bé trai bị dậy thì sớm ngoại vi có thể do: khối u ở tuyến thượng thận hoặc trong tuyến yên tiết ra estrogen hoặc là testosteron; hội chứng McCune-Albright; tiếp xúc với các nguồn bên ngoài của estrogen hay testosteron, chẳng hạn như các loại kem hoặc thuốc mỡ. 

Ở trẻ gái cũng có thể được kết hợp với: u nang buồng trứng, các khối u buồng trứng. Ở trẻ trai cũng có thể là do khối u trong các tế bào sản xuất tinh trùng (tế bào mầm), hoặc trong các tế bào mà sản xuất testosteron (tế bào Leydig). 

Ngoài ra, gene đột biến - một rối loạn hiếm gặp gọi là gonadotropin, là do một khiếm khuyết ở gen, có thể dẫn đến việc sản xuất ban đầu của testosteron ở các bé trai, thường là ở độ tuổi từ 1 đến 4. 

Trẻ ăn nhiều chất béo và đồ ăn nhanh có nguy cơ dậy thì sớm

Các yếu tố khởi phát dậy thì sớm 

Một trong những yếu tố làm khởi phát sự bài tiết LH- RH là gene KiSS -1 hay còn được gọi là gene GPR54. KiSS-1 xuất hiện đầu tiên ở vùng dưới đồi. KiSS-1 mã tổng hợp hormon kissepeptin, hormon này liên kết tự nhiên với thụ thể GPR54 (G Protein-Coupled Receptor- thụ thể kết hợp với protein G). GPR54- xuất hiện đầu tiên ở não, tuyến yên, bánh nhau. 

Ngày nay, hormon Kisspeptin được xác định là yếu tố di truyền khởi động hiện tượng dậy thì do làm tăng tiết hormon LHRH, làm khởi phát quá trình dậy thì. Một số trường hợp dậy thì có thể do các tín hiệu nguồn gốc ngoại vi như leptine, ghreline, IGF-1, insuline và các steroid sinh dục. Vai trò của leptin với khởi phát dậy thì ngày càng xác định, những người thiếu leptin gây dậy thì muộn. 

Trẻ dậy thì sớm ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? 

Ảnh hưởng về tâm lý: trẻ dậy thì sớm có những dấu hiệu phát triển sinh lý trước tuổi. Những thay đổi trên cơ thể của trẻ dậy thì sớm khác với những trẻ cùng trang lứa sinh ra những vấn đề tâm lý làm cho trẻ ngại ngùng, dễ làm cho trẻ có tâm lý tự ti và để lại di chứng cho trẻ sau khi trưởng thành. 

Chiều cao hạn chế: ảnh hưởng rõ nhất của trẻ dậy thì sớm là phát triển tăng nhanh theo tuổi xương, làm cho trẻ nhìn cao hơn so với các bạn cùng lớp. Tuy nhiên, trẻ dậy thì sớm sẽ làm cho đầu xương đóng khép sớm, rút ngắn thời kỳ sinh trưởng, từ đó ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ khi trưởng thành. 

Ham muốn tình dục trước tuổi: sự phát triển tâm lý dậy thì quá sớm dẫn đến những hành động ham muốn về sinh lý trước tuổi. Do suy nghĩ còn nông nổi, tuổi đời còn nhỏ, khả năng tự khống chế kém nên không thể tránh khỏi những cạm bẫy xã hội, từ đó dẫn đến mang thai hoặc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. 

Hội chứng buồng trứng đa nang: chu kỳ kinh nguyệt trước khi 8 tuổi có nguy cơ phát triển chứng rối loạn nội tiết tố sau này ở tuổi dậy thì gây buồng trứng đa nang. 

Làm gì khi trẻ dậy thì sớm? 

Nếu nghi ngờ trẻ dậy thì sớm, cần đến khám bác sĩ chuyên khoa nội tiết ở trẻ em (nội tiết nhi khoa). Để chẩn đoán xác định cần làm một số xét nhiệm cận lâm sàng. X - quang bàn tay và cổ tay cũng rất quan trọng, cho thấy nếu các xương đang phát triển quá nhanh; xét nghiệm máu sau tiêm St-RH hormon. 

Ở trẻ em với dậy thì sớm trung tâm, tiêm Gn-RH và mức hormon LH, hormon kích thích nang trứng tăng. Ở trẻ em với dậy thì sớm ngoại vi, mức độ hormon LH và FSH giữ nguyên. Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho trẻ em có dậy thì sớm trung tâm để xem có bất kỳ bất thường của não gây ra sự bắt đầu vào đầu của tuổi dậy thì. 

Kiểm tra tuyến giáp nếu cho thấy bất kỳ dấu hiệu của suy giáp (chẳng hạn như mệt mỏi, trì trệ, tăng độ nhạy để táo bón, cảm lạnh, giảm hiệu suất hoạt động trường học hoặc khô da nhợt nhạt); có thể làm siêu âm vùng chậu để kiểm tra u nang buồng trứng... 


Các phương pháp điều trị dậy thì sớm 

Hiện nay, những tiến bộ của y học cho phép việc điều trị dậy thì sớm cho kết quả khả quan. Điều trị dậy thì sớm phụ thuộc vào nguyên nhân. 

Điều trị nội khoa: hầu hết trẻ em bị dậy thì sớm trung tâm, có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc. Điều trị này, được gọi là điều trị St-RH, thường bao gồm một mũi tiêm thuốc hàng tháng, như leuprolide, dừng trục HPG và chậm phát triển hơn nữa. Đứa trẻ tiếp tục nhận được thuốc này cho đến khi đến tuổi bình thường của tuổi dậy thì. Một khi dừng thuốc, quá trình dậy thì bắt đầu lại. 

Phẫu thuật can thiệp: nếu bệnh do khối u, u nang buồng trứng tuyến thượng thận... gây nên thì phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ. Sau phẫu thuật, trẻ cần được kiểm tra định kỳ ở bệnh viện để xem xét kết quả. Nếu u nằm trong não, việc quyết định phẫu thuật phải được sự đồng ý của bác sĩ ngoại khoa thần kinh. 

Phòng ngừa thế nào? 

Một số các yếu tố nguy cơ dậy thì sớm, chẳng hạn như giới tính và chủng tộc, không thể tránh khỏi. Nhưng, có những điều có thể làm để giảm nguy cơ của trẻ phát triển dậy thì sớm, bao gồm: 

Dinh dưỡng hợp lý: Tăng cường rau củ quả cho trẻ trong bữa ăn hằng ngày, đảm bảo lượng đạm đầy đủ, không nên ăn thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, xúc xích, bơ...; không tẩm bổ quá mức, hạn chế ăn nhiều đồ ngọt, đồ chiên rán... chứa nhiều chất béo khiến trẻ thừa dinh dưỡng.

Chú ý lựa chọn thực phẩm an toàn, tránh mua thực phẩm trôi nổi không uy tín, không rõ nguồn gốc, thực phẩm chứa hormon tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tới dậy thì sớm. Khuyến khích trẻ năng vận động: vận động sẽ giúp trẻ tiêu hao năng lượng như các môn bơi, nhảy dây, đá bóng, đá cầu... 


BS. Hoàng Thị Yến Loan
Click đọc ngay…

Hội chứng thận hư ở trẻ do viêm đường hô hấp

21:34 |
Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ bị thận hư. Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ mắc hội chứng thận hư. 

Bệnh còn làm tổn thương nhiều cơ quan khác, hậu quả là trẻ không thể phát triển khỏe mạnh bình thường, dễ chết yểu. Mùa đông - xuân trẻ dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp nên có nguy cơ cao mắc bệnh thận hư. 

Ở trẻ em, hội chứng thận hư (HCTH) thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và trên cơ địa dị ứng. Bệnh gây tổn thương cầu thận mạn tính ở trẻ em. Tại Việt Nam, tuổi mắc bệnh trung bình là 8,7 tuổi; trẻ trai có tỷ lệ mắc bệnh gấp đôi so với trẻ gái. 


Dấu hiệu trẻ mắc bệnh 

Trẻ em bị HCTH thường có các triệu chứng: phù toàn thân với đặc điểm là phù trắng, phù mềm, ấn lõm, không đau. Lúc đầu trẻ bị phù đột ngột từ mặt lan xuống toàn thân. Có khi trẻ còn bị phù đa màng: màng bụng, màng phổi, màng tim, màng não. Đôi khi trẻ có đau bụng, có thể do căng màng bụng khi dịch báng quá nhiều gây đau hoặc do tắc mạch mạc treo, do rối loạn tiêu hóa, viêm phúc mạc... 

Đến bệnh viện khám bệnh, trẻ phải làm các xét nghiệm để xác định bệnh. Xét nghiệm nước tiểu thấy protein niệu trên 100mg/kg/24 giờ; có trụ thấu quang. Xét nghiệm máu có thể thấy giảm protein toàn phần dưới 40g/l. 

Làm điện di protein máu thấy albumin máu giảm dưới 25g/l; chất alpha2 globulin và bêta globulin tăng, gama globulin giảm nhiều vào giai đoạn muộn của bệnh. 

Điện di miễn dịch thấy IgM tăng cao và IgG giảm nhiều. Lipid máu và cholesterol máu tăng. Hồng cầu giảm, bạch cầu và tiểu cầu có thể tăng. Điện giải đồ có thể thấy giảm Na, K, Ca. 

Bệnh gây nhiều biến chứng HCTH thường gây ra một số biến chứng nặng gồm: nhiễm khuẩn, viêm phúc mạc, viêm phổi, viêm mô tế bào, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết. 

Nếu trẻ bị HCTH thường chậm phát triển, dễ bị suy dinh dưỡng, loãng xương, hay bị co giật do hạ canxi máu, thiếu máu, bướu tuyến giáp, thuyên tắc mạch mạc treo, tắc mạch ở phổi, ở các chi, bị những cơn đau bụng do phù mạc treo, phù tụy, viêm phúc mạc... 

Ngoài ra, trong quá trình điều trị, một số biến chứng cũng có thể xảy ra. Khi dùng thuốc corticoid liều mạnh và kéo dài sẽ gây rối loạn nước và điện giải; rối loạn nội tiết và chuyển hóa; loét dạ dày, ảnh hưởng nhiều cơ quan. 

Nếu dùng thuốc ức chế miễn dịch và ức chế tế bào ung thư có thể gây suy tủy, ung thư máu, nhiễm khuẩn, viêm bàng quang, chảy máu, rụng tóc... Bệnh nhi phải dùng thuốc lợi tiểu để chống phù có thể gây rối loạn điện giải như giảm Na, K máu, giảm thể tích máu tuần hoàn gây trụy tim mạch, suy thận. 

Hội chứng thận hư gần nhiều tác hại bất lợi cho trẻ

Những lưu ý khi điều trị hội chứng thận hư ở trẻ

Trong điều trị, bệnh nhi cần được nghỉ ngơi, điều trị triệu chứng phù với chế độ ăn nhạt, chỉ khoảng 2-3g muối/ngày; chỉ uống ít nước dưới 15ml/kg/ngày. Bệnh nhi rất cần được ăn nhiều đạm: từ 2-4g/kg/ngày. Trẻ cũng cần bổ sung các vitamin C và nhóm vitamin B. 

Giữ vệ sinh thân thể, mùa đông xuân cần giữ ấm cho trẻ bệnh bằng chế độ ăn uống đầy đủ và mặc quần áo ấm, quàng khăn, đội mũ giữ ấm vùng đầu, cổ, ngực. 

Vì hội chứng thận hư ở em rất hay tái phát nên bệnh nhi cần được theo dõi sát trong nhiều năm. Để thực hiện việc này, đòi hỏi cha mẹ và bệnh nhi cần tuân thủ chế độ điều trị nội trú ở bệnh viện cũng như việc điều trị ngoại trú một cách nghiêm túc. Bệnh nhi cần được theo dõi các chỉ số phát triển như chiều cao, cân nặng, huyết áp và các kết quả xét nghiệm giúp theo dõi bệnh như tốc độ máu lắng, protein niệu... 

Việc phòng bệnh rất quan trọng 

Nhiều trường hợp hội chứng thận hư thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp hoặc các bệnh nhiễm khuẩn khác, nên các bậc cha mẹ cần chú ý chăm sóc trẻ, cho trẻ ăn uống đầy đủ, học tập và nghỉ ngơi hợp lý để tránh các bệnh nhiễm khuẩn. 

Luôn luôn vệ sinh nhà ở, lớp học tốt để tránh những nguy cơ nhiễm khuẩn qua hô hấp do ô nhiễm không khí, nhiễm khuẩn da, niêm mạc... 

Mùa đông xuân, cha mẹ cần cho trẻ mặc quần áo ấm, đội mũ, quàng khăn giữ ấm cho trẻ, nhất là vùng ngực cổ để phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng. Thường xuyên cho trẻ đeo khẩu trang khi đi đường hay đến nơi đông người như chợ, lễ hội, đình đám... để tránh hít phải khói, bụi, vi khuẩn. Khi trẻ bị các bệnh nhiễm khuẩn, cần điều trị tích cực. 


BSCKI. Trịnh Anh Thư
Click đọc ngay…

Trẻ chậm mọc răng có liên quan đến bệnh còi xương?

10:47 |
Trẻ chậm mọc răng có thể do di truyền và thời điểm sinh em bé cũng quyết định thời điểm mọc răng của trẻ. Trẻ sinh đủ tháng sẽ có răng sớm hơn so với bé sinh thiếu tháng. Những em bé sinh thiếu tháng, nhẹ cân cũng sẽ mọc răng chậm hơn các bé bình thường. 

Tuy nhiên, giới hạn mọc răng đầu tiên của trẻ là 12 tháng tuổi. Điều bạn cần quan tâm là phát hiện sớm nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng để kịp thời thay đổi chế độ ăn uống và chăm sóc trẻ cho phù hợp. 

Quá trình mọc răng của trẻ 



Ở mỗi trẻ tiến trình mọc răng hoàn toàn khác nhau, có trẻ mọc răng sớm, có trẻ mọc răng muộn. Số răng của trẻ thông thường bằng số tháng tuổi trừ đi 4. Bình thường khi trẻ được 6 tháng tuổi, chiếc răng đầu tiên sẽ mọc. 

Trẻ bắt đầu mọc răng cửa hàm dưới trước tiên rồi đến răng cửa hàm trên, tiếp theo là răng cối sữa thứ nhất, sau đó là răng nanh. Khi mọc đến răng cối sữa thứ hai cũng là lúc bộ răng sữa đã mọc đủ, 10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới. Lúc này trẻ đã được khoảng 3 tuổi. 

Tuy nhiên cũng có trường hợp trẻ mọc răng lúc mới 4 tháng tuổi và đến một tuổi đã mọc đầy đủ bộ răng sữa. Hoặc có trẻ không mọc một chiếc răng nào mãi cho đến khi được 2 tuổi. Trong nhiều trường hợp trẻ phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần dù chưa mọc răng hoặc mọc răng chậm hơn so với tháng tuổi thì đó là do sinh lý. 

Nếu trẻ mọc răng chậm kết hợp với một số biểu hiện khác như trẻ chậm phát triển chiều cao, cân nặng, ngủ không ngon giấc, đổ mồ hôi trộm ban đêm, thóp rộng... thường là do trẻ bị còi xương do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D và chế độ ăn nghèo canxi và phospho... 

Những nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng 

Trẻ chậm mọc răng do bị còi xương: Những trẻ dễ có nguy cơ còi xương là trẻ sinh non, trẻ sinh đôi, trẻ nuôi bằng sữa ngoài, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông... 

Các dấu hiệu còi xương ở trẻ như: trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ, xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, các biểu hiện ở xương: thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê; trương lực cơ nhẽo, táo bón... 

Trong trường hợp còi xương cấp tính: trẻ có thể bị co giật do hạ canxi máu. Việc bổ sung vitamin D và canxi dưới dạng thuốc là cần thiết nhưng bạn phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Bạn không nên tự ý cho bé dùng vitamin nói chung và canxi nói riêng vì trẻ có thể bị rối loạn tiêu hóa, chán ăn... do uống vitamin quá liều hoặc trong thời gian dài. 

Trẻ chậm mọc răng do bị suy dinh dưỡng: Khi trẻ chậm mọc răng và trẻ có số đo về cân nặng và chiều cao thấp hơn trẻ bình thường với các triệu chứng của còi xương như trên là do trẻ bị suy dinh dưỡng. 



Chế độ ăn của trẻ ngoài việc đảm bảo các yếu tố chất đường, đạm, tinh bột, chất béo... việc hấp thu và chuyển hóa canxi thành canxi của xương phụ thuộc nhiều vào yếu tố xúc tác quan trọng nhất là vitamin D. Do đó, bạn nên cho trẻ vận động và tắm nắng buổi sáng hàng ngày trước 9 giờ. 

Bạn cần lưu ý, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng để tay, chân, lưng... của trẻ lộ ra ngoài, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng. Đừng bỏ phí ánh nắng mặt trời - “của trời cho”. Dùng đơn thuần canxi không đủ mà phải đồng thời kết hợp cùng vitamin D. 

Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa vật lý liệu pháp tại các bệnh viện. Dưới da có sẵn các tiền vitamin D dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời, các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho. 

Trẻ chậm mọc răng do bị thiếu canxi: Nguồn dinh dưỡng chính của bé khoảng 6 tháng tuổi vẫn là sữa mẹ. Thông thường, bé bú mẹ hoàn toàn sẽ được cung cấp đầy đủ canxi. Trường hợp trẻ thiếu canxi dễ xảy ra với nhóm bú bình (kể cả những đứa trẻ bụ bẫm vẫn có thể bị thiếu canxi do nhu cầu về canxi cao hơn trẻ bình thường). 

Trẻ em và cả người mẹ đều có thể thiếu canxi do chất lượng sữa mẹ kém (nguyên nhân là do người mẹ ăn uống kiêng khem hoặc chế độ dinh dưỡng nghèo nàn). Mặt khác, tỷ lệ canxi trong thức ăn được hấp thu liên quan đến một tỷ lệ phù hợp của một chất khoáng khác là phospho. 

Thức ăn có nhiều loại chứa hàm lượng phospho cao nhưng lại có ít loại chứa canxi mà hàm lượng lại thấp như tôm, tép, trứng, sữa, các loại ngũ cốc, rau, củ... Khi tỷ lệ phospho quá cao, trẻ hấp thụ quá nhiều phospho - sự hấp thụ canxi sẽ giảm đi. Sự cần thiết cho sự hấp thụ canxi là vitamin D. 

Nguồn cung cấp chủ yếu từ ánh sáng mặt trời chiếm tới 80%. Nếu thiếu nó sẽ bị rối loạn hấp thu và chuyển hóa canxi. Thức ăn hàng ngày (tôm, cua, cá, sữa) chứa nhiều vitamin D nhưng vì vitamin D là một loại vitamin tan trong dầu nên nếu chế độ ăn không đủ chất béo, dù có uống vitamin D cơ thể vẫn không thể hấp thu được. 


BS. Đỗ Thị Thu Nga
Click đọc ngay…

Đề phòng sớm dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa ở trẻ

10:19 |
Ngày nay, với kỹ thuật siêu âm và chẩn đoán trước sinh, nhiều dị tật bẩm sinh được phát hiện ngay trong thời kỳ bào thai, giúp cho gia đình bệnh nhân chủ động hơn trong việc chuẩn bị điều trị. Việc phát hiện sớm còn giúp bệnh nhân có kết quả điều trị tốt hơn, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. 

Một số dị tật đường tiêu hóa ở trẻ cần phát hiện và điều trị sớm 

Thoát vị trong dây rốn và khe hở thành bụng 

Thoát vị trong dây rốn là dị tật bẩm sinh của thành bụng. Tạng trong ổ bụng chui ra ngoài qua vòng rốn không khép kín và được che phủ bởi màng ối trong mờ, vô mạch. Hầu hết thoát vị trong dây rốn có túi thoát vị, với kích thước khác nhau. 



Màu túi lúc đầu trong, nhìn qua thành túi thấy được các tạng như gan ruột bên trong, sau một vài ngày thành túi mờ đục dần trở thành màu sữa. Cổ túi ở vị trí khuyết thành bụng, có thể rộng hoặc hẹp với kích thước khác nhau. Dây rốn thường lồng dính vào trong thành túi ở vị trí giữa hoặc ở dưới túi. Biến chứng vỡ túi có thể xảy ra ở thời kỳ trước, trong và sau đẻ. 

Nếu túi thoát vị bị vỡ trong thời kỳ bào thai thì ruột non sẽ ra khỏi ổ bụng và ngâm trong nước ối, sau đẻ dễ nhầm lẫn với khe hở thành bụng. Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn gây viêm phúc mạc. Cổ túi hẹp sẽ gây nghẹt ruột, dẫn đến thủng ruột, tình trạng này xảy ra trong thời kỳ bào thai sẽ gây thủng ruột gây viêm phúc mạc phân su và có thể có teo ruột thứ phát. 

Các dị tật phối hợp thường khá cao, khoảng 50% như dị dạng về nhiễm sắc thể, bàng quang lộ ra ngoài, thoát vị hoặc sổ cơ hoành, dị tật về tim mạch... Nếu trẻ bị dị tật này cần phải chăm sóc cẩn thận, tránh bị vỡ túi thoát vị. Phẫu thuật là biện pháp duy nhất xử trí dị tật và phải tiến hành mổ nhiều lần, sao cho đảm bảo đưa hết tạng vào bụng đúng vị trí. 

Dị tật khe hở thành bụng

Là ở khe dọc của thành bụng, cạnh rốn mà qua đó ruột nguyên thuỷ chui ra ngoài. Khuyết hụt của thành bụng cạnh rốn thường là bên phải, dây rốn bình thường và thường cách khe hở thành bụng một cầu da. 

Dị tật này xảy ra vào tuần lễ thứ 9 của bào thai, do rối loạn phát triển lá thành phôi, thiếu khúc cơ nguyên thuỷ và trung mô, tiêu biểu mô. Ruột chui qua khe hở thành bụng ngâm trong nước ối. Do viêm phúc mạc nên thành ruột dày và phù nề, ruột dính vào nhau và rất ngắn, thường có rối loạn quay của ruột. Gan không bị lộ ra ngoài nhưng có thể thấy buồng trứng và tinh hoàn lạc chỗ. 

Các dị tật và tổn thương phối hợp có thể gặp là teo ruột, hoại tử hồi tràng, thủng tá tràng, viêm ruột hoại tử... Ngay sau khi sinh trẻ phải được điều trị ngay như thoát vị dây rốn nhưng cần chú ý tình trạng thân nhiệt, bảo vệ ruột lộ ra ngoài và chuyển ngay tới trung tâm phẫu thuật nhi. Sau khi phẫu thuật, trẻ được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, sau đó kết hợp dần với nuôi dưỡng bằng ống thông qua dạ dày - ruột. 



Dị tật hậu môn - trực tràng (HMTT) 

Đây là dị tật không có lỗ hậu môn, có hoặc không có đường rò từ ống hậu môn, trực tràng ra tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu, cơ quan sinh dục. Sự rối loạn phát triển ở một giai đoạn nào đó của bào thai dẫn đến dị tật này. 

Có các loại dị tật HMTT sau: cao, trung gian, thấp và hiếm gặp. Đối với dị tật không có rò từ ống HMTT thì da ở vị trí vết tích hậu môn căng phồng khi trẻ khóc, có thể thấy màu xanh phân su nếu màng bịt hậu môn mỏng, đục mờ. Hoặc da ở vị trí hậu môn phẳng hoặc lõm ngay cả khi trẻ khóc. Dùng kim châm nhẹ kích thích da hậu môn thấy có phản xạ co thắt là có cơ thắt ngoài. 

Đối với dị tật có lỗ rò HMTT, phải đợi từ 18-24 giờ sau đẻ mới có thể đánh giá chính xác được bằng thăm dò hoặc xoa ép nhẹ vùng tầng sinh môn hoặc niệu đạo. Có sự khác nhau giữa nam và nữ. 

Ở trẻ trai: Lỗ rò có thể ra ở tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu thường là ở niệu đạo. Lỗ rò ở đường đan của tầng sinh môn hoặc bìu. Trẻ đái ra phân su; đối với trẻ gái cần quan sát xem có mấy lỗ ở tầng sinh môn. Nếu có một lỗ duy nhất tại vị trí giữa hai môi lớn là dị tật thể đặc biệt: còn ổ nhớp. Ở thể bệnh này, niệu đạo, âm đạo, trực tràng đổ chung vào một ống gọi là ổ nhớp. 

Một thể bệnh hiếm gặp hơn là âm đạo bị teo cao, chỉ có niệu đạo và trực tràng đổ chung vào một ống là hoặc trực tràng teo cao không thông với xoang niệu dục. Khám có dấu hiệu tắc ruột, có thể bí đái, tử cung căng to ứ dịch. 

Trường hợp có hai lỗ niệu đạo và âm đạo, không có lỗ hậu môn, nếu phân su ra qua lỗ âm đạo là rò trực tràng - âm đạo (dị tật thể cao hoặc trung gian). Có 3 lỗ: niệu đạo, âm đạo và một lỗ ở âm hộ hoặc tiền đình hoặc tầng sinh môn. Có thể xảy ra lỗ rò ở tiền đình (vị trí giao nhau của hai môi bé, ngoài màng trinh); lỗ rò âm hộ hay lỗ rò ở tầng sinh môn. 

Dị tật HMTT hiện nay được xử trí khá hoàn thiện tại các trung tâm ngoại nhi, tuỳ theo mức độ dị tật và tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân mà tiến hành mổ một lần hoặc nhiều lần. Hầu hết các trường hợp đều cho kết quả tốt. 

Phòng dị tật bẩm sinh như thế nào? 

Để phòng dị tật bẩm sinh, các cặp vợ chồng cần chuẩn bị sức khoẻ tốt khi quyết định sinh con. Người mẹ cần tiêm các loại vaccin phòng bệnh trước khi có thai như vaccin phòng bệnh Rubella, cúm. 

Trong thời gian mang thai không nên tiếp xúc với hoá chất độc hại, không sử dụng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, ăn đủ chất dinh dưỡng, có tinh thần thoải mái. Nếu trong gia đình có người bị dị tật, khi mang thai cần đi thăm khám thường xuyên hơn những người bình thường để kịp thời được tư vấn hướng dẫn biện pháp chăm sóc thai sản và sau sinh. 


TS. Trần Ngọc An
Click đọc ngay…

Giải pháp cho trẻ suy dinh dưỡng thấp còi

09:30 |
Hầu hết các bậc cha mẹ thường chỉ quan tâm đến cân nặng của con, ít khi chú ý đến chiều cao của trẻ, ngay cả khi sinh các nữ hộ sinh cũng chỉ cần trẻ mà ít khi đo chiều dài của trẻ là bao nhiêu. Chiều dài của trẻ khi sinh cũng rất quan trọng, nó phản ánh tình trạng dinh dưỡng sau này của trẻ. 

Có 3 giai đoạn quan trọng để trẻ phát triển chiều cao: 

- Giai đoạn bào thai: nếu trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai hoặc sinh non tháng nhẹ cân thấp chiều cao thì nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi rất cao. 

- Giai đoạn trẻ dưới 2 tuổi: chiều cao lúc trẻ 2 tuổi bằng 1/2 chiều cao lúc trẻ trưởng thành, vì vậy nuôi trẻ dưới 2 tuổi là vô cùng quan trọng. 

- Giai đoạn tuổi tiền dậy thì: 10 – 13 tuổi ở trẻ gái, 13 - 17 tuổi ở trẻ trai. Vì vậy, nếu trẻ gái sau khi hành kinh, trẻ trai sau 17 tuổi sẽ rất khó có thể cao được nữa. 

Suy dinh dưỡng thấp còi là gì? 

Đây là tình trạng trẻ chậm phát triển chiều cao, chỉ đạt dưới 90% so với chiều cao chuẩn. Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính kéo dài. 



Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện nay có khoảng 29,5% số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thấp còi, với khoảng 154 triệu trẻ em. Hầu hết các trường hợp thấp còi xảy ra trước khi trẻ được 3 tuổi. 

Trẻ em bị thấp còi sau này trở thành người lớn cũng có chiều cao thấp. Hơn nữa, những người bị SDD thấp còi thường có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc bệnh hơn, lao động kém hơn so với người bình thường. 

 Theo mô hình chu trình dinh dưỡng - vòng đời do Tiểu ban dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc đưa ra tại Hội nghị dinh dưỡng về những thách thức cho thế kỷ XXI thì trẻ em thấp còi về sau trở thành người lớn cũng có chiều cao thấp. Trẻ em gái bị SDD thấp còi lớn lên trở thành người phụ nữ thấp còi và khi đẻ con thì nguy cơ SDD thấp còi cho con cao hơn. 

Những trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thấp còi 

- Trẻ sinh non. 

- Trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai: trẻ sinh đủ tháng nhưng có cân nặng sơ sinh < 2.500g. 

- Trẻ bị dị tật bẩm sinh. 

- Trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài. 

- Trẻ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa. 

- Trẻ bị còi xương. 

- Trẻ được nuôi dưỡng không hợp lý. 

Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi

- Ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ. 

- Ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống. 

- Trẻ dễ bị béo phì do thấp chiều cao. 



Làm gì để giúp trẻ? 

Chiều cao của trẻ do nhiều yếu tố quyết định, trong đó có 3 yếu tố chính: 

- Di truyền. 

- Chế độ dinh dưỡng. 

- Luyện tập thể dục thể thao. 

Như vậy, có 2 yếu tố có thể tác động và can thiệp được đó là chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể dục thể thao. 

Về chế độ dinh dưỡng: 

- Cung cấp đủ năng lượng theo lứa tuổi của trẻ, trẻ không thể cao được nếu chế độ ăn thiếu năng lượng, bằng cách ăn đủ các bữa cháo, bột, cơm… hàng ngày theo tháng tuổi, bổ sung đầy đủ dầu mỡ trong các bữa ăn. 

- Ưu tiên các thức ăn chứa nhiều chất đạm: thịt, cá, tôm ,cua, trứng, sữa. 

- Chọn các thực phẩm giàu canxi, sắt, kẽm: cũng chính là các thức ăn có nguồn gốc động vật, giàu chất đạm: trứng, sữa, thủy sản, thịt… đặc biệt các loại thức ăn có chứa nhiều kẽm như: thịt gà, thịt cóc, con hàu... vì thiếu kẽm là một trong những nguyên nhân gây chậm phát triển chiều cao ở trẻ em. 

- Nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng và tiếp tục bú đến 2 tuổi, nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa thì phải được bổ sung sữa bột công thức theo tháng tuổi, khi trẻ đã lớn vẫn phải duy trì uống sữa hàng ngày vì sữa là nguồn cung cấp canxi chính trong bữa ăn của trẻ, nhất là trẻ còn nhỏ chưa ăn được nhiều tôm, cua, cá. Hơn nữa canxi trong sữa lại dễ hấp thu hơn trong các loại thực phẩm khác. 

- Ăn nhiều rau xanh quả chín, cũng giúp trẻ phát triển chiều cao vì rau quả cung cấp nhiều vi chất dinh dưỡng, hơn nữa lại phòng ngừa táo bón giúp trẻ hấp thu tốt các vi chất như: canxi, sắt, kẽm… Chế độ ăn cũng cần bổ sung các vi chất dinh dưỡng dưới dạng thuốc như: vitamin D, vitamin A, canxi, kẽm, sắt… theo hướng dẫn của bác sĩ. 

- Điều trị kịp thời các bệnh còi xương, rối loạn tiêu hóa khi trẻ mắc phải. 

Chế độ luyện tập thể dục thể thao cũng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển chiều cao của trẻ: các môn thể thao giúp trẻ phát triển chiều cao: bơi lội, đạp xe, chạy, chơi cầu lông… khi trẻ đã lớn chọn các môn thể thao phù hợp với tuổi của trẻ.

Như vậy, để trẻ lớn lên khỏe mạnh thông minh, các bà mẹ không chỉ quan tâm đến cân nặng của trẻ mà còn phải quan tâm đến chiều cao, vì chiều cao chỉ có từng giai đoạn để trẻ phát triển, nếu bỏ qua sẽ không thể lấy lại được. 


BS.ThS. LÊ THỊ HẢI
Click đọc ngay…

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị tiêu chảy

09:12 |
Tiêu chảy là tình trạng khi trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc nhiều nước trên 3 lần 1 ngày, thường hay xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là những trè từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi. 

Tiêu chảy cấp xảy ra đột ngột kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày). Tiêu chảy kéo dài là khi bị tiêu chảy trên 2 tuần hoặc nhiều hơn. 

Trẻ em bị tiêu chảy thường bị suy dinh dưỡng và có thể dẫn tới tử vong, do cơ thể mất một lượng nước và muối lớn. Một nguyên nhân quan trọng nữa gây ra chết là lỵ. Để giúp trẻ phục hồi nhanh sau tiêu chảy và tránh suy dinh dưỡng cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, ăn càng sớm càng tốt khi chúng muốn ăn.


Chế độ ăn uống của trẻ bị tiêu chảy

Trong điều trị tiêu chảy, điều quan trọng nhất là đề phòng mất nước, nhanh chóng điều trị mất nước và chế độ ăn của trẻ. Để phòng mất nước ngày tại nhà bằng cách cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường như ORS (oresol), nước đun sôi để nguội, hoặc các dung dịch chế từ thực phẩm như cháo, nước cháo muối, nước gạo rang, nước cơm… 

Nếu có mất nước phải đưa trẻ đến gặp cán bộ y tế cơ sở hoặc trạm y tế để điều trị. Cách điều trị mất nước tốt nhất là cho trẻ uống ORS và các loại dung dịch chế từ thực phẩm. Số lượng dung dịch cần cho uống tại nhà sau mỗi lần đi ngoài: 

Trẻ dưới 2 tuổi: 50 - 100ml. 

Trẻ từ 2 - 10 tuổi: 100 - 200ml. 

Trẻ từ 10 tuổi trở lên và người lớn: uống theo nhu cầu.

Các loại dịch dùng trong điều trị 

ORS và cách pha: rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi pha. Đổ bột gói vào một cái bình ấm hay ấm tích nước sạch. Đong một lít nước sạch (hoặc một lượng nước thích hợp với từng loại gói được dùng), tốt nhất là nước đun sôi để nguội, trong trường hợp không thể có được thì dùng nước nào sạch nhất. Đổ nước vào bình chứa và lắc kỹ cho đến khi bột hòa tan hoàn toàn. Đậy bình lại và cho trẻ uống trong vòng 24 giờ. Đổ dung dịch đã pha đi khi đã quá 24 giờ và pha lại dung dịch mới.

Nước cháo muối: dùng một nắm gạo, một nhúm muối và 6 bát ăn cơm nước sạch rồi đun nhừ, lọc qua rá, lấy nước cho trẻ uống dần.

Nước gạo rang muối: lấy 50g gạo (một vốc tay) đem rang vàng, cho 6 bát nước đem nấu nhừ lọc qua rá cho 1 thìa cà phê muối ăn vào rồi cho trẻ uống dần. 

Nước chuối, nước hồng xiêm: chuối hoặc hồng xiêm 5 quả xay hoặc nghiền nát với 1 lít nước sôi để nguội + 1 thìa cà phê gạt ngang muối ăn, cho trẻ uống dần.

Súp cà rốt muối: cà rốt 500g, muối ăn một thìa cà phê gạt ngang, 8 thìa cà phê đường. Cà rốt nấu nhừ chà qua rá hoặc cho vào máy xay sinh tố xay nhừ, cho một nhúm muối đun sôi lại, cho trẻ uống dần.



Cho trẻ ăn khi bị tiêu chảy 

Là vấn đề rất quan trọng để đề phòng trẻ bị sút cân và suy dinh dưỡng. Các loại thực phẩm nên dùng khi trẻ bị tiêu chảy: gạo (bột gạo), khoai tây, thịt gà nạc, thịt lợn nạc, sữa đậu tương, dầu ăn, cà rốt, hồng xiêm, chuối.

Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi đang bú mẹ: vẫn tiếp tục cho trẻ bú bình thường và tăng số lần bú.

Trẻ trên 6 tháng tuổi: ngoài sữa mẹ cần cho trẻ ăn thêm nhiều lần và từng ít một, các thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, trứng, cá, sữa… và cần cho thêm một ít dầu, mỡ để tăng thêm năng lượng của khẩu phần.

Thức ăn cần mềm, nấu kỹ, nấu loãng hơn bình thường và cho ăn ngay sau khi nấu để đảm bảo vệ sinh, giảm nguy cơ bội nhiễm, nếu phải cho trẻ ăn những thức ăn đã được nấu sẵn thì cần phải đun lại trước khi cho ăn.

Cho trẻ ăn thêm quả chín hoặc nước quả chín như chuối, cam, chanh, xoài, đu đủ… để tăng lượng kali. Không dùng các loại nước giải khát công nghiệp vì chúng có thể làm tăng tiêu chảy.

Tránh các loại thực phẩm có nhiều xơ hoặc ít chất dinh dưỡng như các loại rau thô, tinh bột nguyên hạt (ngô, đỗ…) khó tiêu hóa. Không dùng các loại thức ăn có nhiều đường vì những loại thức ăn này có thể làm tiêu chảy nặng hơn.

Số lượng thức ăn: Cần khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt. Trẻ nhỏ cho ăn 6 lần/ ngày hoặc nhiều hơn. Sau khi khỏi tiêu chảy, để giúp cho trẻ phục hồi nhanh và tránh suy dinh dưỡng cần cho trẻ ăn thêm mỗi ngày một bữa trong hai tuần liền. Với trẻ bị tiêu chảy kéo dài thì phải cho trẻ ăn thêm mỗi ngày một bữa và kéo dài tối thiểu một tháng. 

Ghi chú:

- Nếu trẻ ăn ít hoặc ăn vào bị nôn thì cho ăn ít hơn và tăng số bữa lên so với thực đơn.

- Trẻ dùng sữa bò tiêu chảy tăng thêm thì thay bằng sữa đậu tương 10% hoặc sữa không có latoza như (Isomil, Olac) hoặc cho ăn sữa chua làm từ sữa pha giống như các bữa sữa nước của trẻ.

- Từ ngày thứ 5 nếu trẻ bớt tiêu chảy quay dần về chế độ ăn, ăn bình thường.

Phòng bệnh tiêu chảy 

- Nuôi con bằng sữa mẹ.

- Cho trẻ ăn bổ sung đúng và hợp lý, đảm bảo vệ sinh khi chế biến, bảo quản, dùng nguồn nước sạch, thực phẩm sạch và tươi không bị nhiễm khuẩn hoặc hóa chất bảo vệ thực vật.

- Rửa tay bằng xà phòng: Sau khi đi vệ sinh, thay tã lót cho trẻ, trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn, chăm sóc trẻ.

- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý an toàn phân trẻ nhỏ bị tiêu chảy.

- Tiêm phòng sởi: trẻ mắc các bệnh sởi hoặc sau khi khỏi do mắc tiêu chảy, lỵ nặng dẫn tới tử vong. Tiêm vắc-xin sởi có thể phòng ngừa được 25% số ca tử vong liên quan tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi.


PGS.TS. NGUYỄN THỊ LÂM, ThS.BS. LÊ THỊ HẢI
Click đọc ngay…

Những lưu ý khi dùng thuốc ho cho trẻ

09:04 |
Nghiên cứu gần đây cho thấy, thuốc ho thuốc cảm dành cho trẻ em không giúp làm giảm triệu chứng bệnh. Trong một số trường hợp, chúng có thể gây nguy hiểm. 

Các chuyên gia Mỹ nhất trí rằng, mỗi năm một em nhỏ có thể bị khoảng 10 đợt nhiễm virus, với các triệu chứng ho và cảm. Trên thị trường Mỹ hiện có tới hơn 800 loại thuốc ho và thuốc cảm dành cho trẻ em. 

Bốn thành phần chính của các loại thuốc ho thuốc cảm: 



- Chống ngạt mũi: Làm thông thoáng mũi, giúp bé dễ thở. Thuốc làm khô niêm mạc, giúp giảm phần nào hiện tượng chảy nước mũi. Tác dụng phụ là khiến trẻ kích thích, khó ngủ. 

- Kháng histamin: Trị chứng hắt hơi, sổ mũi. Tác dụng phụ gây buồn ngủ. 

- Ức chế cơn ho: Ức chế phản xạ ho ở họng và phổi, ngăn chặn cơn ho. 

- Long đờm: Giúp đờm loãng hơn và dễ long ra.

Thuốc ho có an toàn cho trẻ em? 

Các loại thuốc ho, thuốc cảm đã được sử dụng từ hàng chục năm nay, vẫn có rất ít nghiên cứu về độ an toàn và tính hiệu quả của chúng ở trẻ em. Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) lần đầu tiên đưa ra hướng dẫn sử dụng thuốc ho thuốc cảm ở trẻ em năm 1976. Lúc đó, liều lượng thuốc dùng cho trẻ hoàn toàn dựa vào liều dùng cho người lớn: Trẻ 5-12 tuổi dùng 1/2 liều người lớn, trẻ 2-5 tuổi dùng 1/4 liều người lớn. Tại thời điểm đó chưa có quy định về việc sử dụng thuốc ở trẻ dưới 2 tuổi. 

Bản hướng dẫn này tồn tại trong hơn 30 năm, và được FDA xem xét lại khi nổi lên những nghi vấn về độ an toàn của các thuốc ho đối với trẻ em. Ngày 17/01/2008, cơ quan này đưa ra khuyến cáo cuối cùng: Không dùng thuốc ho, thuốc cảm cho trẻ dưới 2 tuổi vì chúng không an toàn, không hiệu quả. FDA đang tiếp tục xem xét khả năng sử dụng thuốc ho thuốc cảm cho trẻ 2-12 tuổi. 

Nghiên cứu của Trung tâm Phòng và Kiểm soát Bệnh tật của Mỹ (CDC) thực hiện năm 2007 cho thấy, trong khoảng thời gian 2004-2005, hơn 1.500 trẻ dưới 2 tuổi được đưa tới điều trị tại các phòng cấp cứu của Mỹ vì tác dụng phụ của thuốc ho và cảm. 

Các tai biến nguy hiểm nhất bao gồm nhịp tim nhanh, kém tỉnh táo, co giật, tử vong. Trong số các nạn nhân, cả 3 trường hợp trẻ dưới 6 tuổi tử vong vì dùng thuốc cảm năm 2005 đều có nguyên nhân sử dụng thuốc quá liều do vô ý. Các chuyên gia cho rằng, phần lớn các tai biến nghiêm trọng thường liên quan tới việc sử dụng thuốc không đúng cách. 

Thống kê năm 2004 ở Mỹ cho thấy có tới 25% trẻ được dùng thuốc đúng liều nhưng vẫn bị tai biến. Trẻ dưới 2 tuổi có tỷ lệ tai biến cao nhất. Năm 2008, những tranh cãi xung quanh độ an toàn của thuốc cảm ở trẻ em đã khiến nhiều nhà sản xuất phải thay đổi nhãn mác và đưa ra cảnh báo trên bao bì: “Không dùng thuốc này cho trẻ dưới 4 tuổi”, “Không dùng thuốc kháng histamime như thuốc an thần hay thuốc ngủ cho trẻ”. 



Thuốc ho trẻ em có hiệu quả? 

Năm 2009, nghiên cứu do Bệnh viện Nhi đồng BC ở Vancouver (Canada) tiến hành cho thấy, chẳng những thuốc ho, thuốc cảm có thể gây nguy hiểm mà còn không mang lại lợi ích gì cho trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh nhiễm virus cần thời gian để đi hết quãng đường của mình. Không có phương thuốc gì chữa khỏi các căn bệnh này. 

Thuốc ho và cảm chỉ giúp làm giảm nhẹ triệu chứng. Nhiều khi tác hại do sử dụng thuốc không đúng cách còn lớn hơn nhiều so với lợi ích mà các thuốc này mang lại. Cân nhắc giữa lợi và hại, ngày càng có nhiều cha mẹ chọn cách không dùng thuốc ho thuốc cảm cho con. 

Hướng dẫn sử dụng thuốc ho một cách an toàn 

- Đọc kỹ nhãn thuốc, đặc biệt là các thành phần của thuốc. 

- Không sử dụng cùng lúc 2 loại thuốc có cùng thành phần. 

- Chọn thuốc phù hợp với triệu chứng bệnh. 

- Không dùng thuốc lâu hơn quy định. 

- Không dùng thuốc thường xuyên hơn chỉ dẫn. 

- Không cho trẻ dùng thuốc của người lớn, dù có giảm liều. 

- Dùng thìa hoặc cốc đo chính xác hàm lượng thuốc, không được áng chừng. 

Làm gì để giúp bé cảm thấy dễ chịu hơn? 

Phần lớn các bệnh nhiễm virus sẽ tự khỏi sau khoảng một tuần. Thông thường nếu được chăm sóc đúng cách, các bé sẽ khá lên nhiều kể từ ngày thứ 5. 

Hãy giúp trẻ bằng cách: 

- Cung cấp đủ nước: Cho bé uống nhiều nước, nước hoa quả, bú mẹ để giữ cho cơ thể không bị mất nước, phòng ngừa hiện tượng đờm dãi bị cô đặc, gây bít tắc đường hô hấp. 

- Khuyến khích bé ho: Ho là phản xạ bảo vệ tự nhiên của cơ thể, giúp tống đờm dãi ra ngoài. Nếu bé muốn ho, hãy đặt bé ngồi trên lòng bạn, nghiêng người bé về phía trước khoảng 30 độ và vỗ rung nhẹ ở vùng lưng. 

- Làm ẩm đường mũi: Dùng nước muối sinh lý nhỏ đều đặn vào hai bên lỗ mũi, khoảng 30 phút một lần. Nếu mũi bé có nhiều dịch tiết thì cần hút sạch bằng dụng cụ hút mũi dành cho trẻ em. 

- Súc miệng bằng nước muối: Các bé từ 4 tuổi trở lên cần được khuyến khích súc miệng nước muối để giảm triệu chứng đau họng. 

- Khuyến khích bé nghỉ ngơi: Nếu bé sốt hoặc ho nhiều, nên giữ bé ở nhà, hạn chế hoạt động. 

- Mặc ấm cho bé và giữ nhiệt độ phòng ở mức mát mẻ, nhiệt độ cao quá sẽ không tốt vì làm khô đường hô hấp. 

- Làm ẩm không khí: Dùng máy phun sương duy trì độ ẩm trong phòng ở mức 50-70%. Không khí mát và ẩm tạo điều kiện tối ưu cho đường thở.


Bác sĩ Trần Thu Thủy 
Bệnh viện Nhi trung ương
Click đọc ngay…

Trẻ tăng trưởng quá mức, cần phát hiện và điều trị sớm

19:06 |
Trẻ tăng trưởng quá mức là mắc Hội chứng Beckwith Wiedemann. Đây là hội chứng có tính di truyền, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan với đặc điểm nổi trội là sự tăng trưởng quá mức bình thường. 

Hội chứng Beckwith-Wiedemann là bệnh lý bẩm sinh ảnh hưởng đến nhiều bộ phận của cơ thể, với biểu hiện chủ yếu là sự phát triển quá mức bình thường ở các cơ quan này. 

Sự phát triển quá mức này xảy ra ở trong thời thơ ấu của trẻ. Tuy nhiên, tăng trưởng bắt đầu chậm lại khoảng 8 tuổi. Do phát triển các bộ phận lớn bất thường dẫn đến sự bất đối xứng hoặc không đồng đều trong cơ thể trẻ bệnh. 



Biểu hiện bệnh 

Hội chứng Beckwith-Wiedemann có thể biểu hiện khác nhau giữa các bệnh nhân: có trẻ chỉ có dấu hiệu bệnh nhẹ, trong khi ở các trẻ khác lại có nhiều triệu chứng bất thường nghiêm trọng. Tuy nhiên, có một số triệu chứng chung cho hầu hết các trẻ em mắc bệnh này. 

Các đặc điểm nhận dạng chính của hội chứng như sau: Trẻ mắc bệnh thường bị sinh non nhưng vẫn to hơn và nặng hơn trẻ bình thường, chỉ thời gian của thai kì là rút ngắn hơn. 

Trẻ có biểu hiện của chứng khổng lồ: chiều cao và trọng lượng tăng bất thường cao hơn so với trẻ cùng tuổi. Lưỡi to là một triệu chứng điển hình: ở nhiều bệnh nhi, lưỡi to và vẫn tiếp tục phát triển có thể gây ngưng thở, ăn uống và nói khó khăn, trong khi trẻ hay chảy nước dãi. 

Tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh hô hấp như viêm phế quản hoặc tăng sinh chất nhầy, thậm chí có thể làm cho hàm dưới nhô ra. Một số bệnh nhân còn có nếp gấp dái tai, đôi khi xuất hiện cùng với các vết lõm phía sau vành trên của tai. 

Khối u Wilms là khối u ở thận: có khoảng 7,5% trẻ em mắc bệnh sẽ phát triển u này. Do các khối u tăng trưởng nên trẻ cần được siêu âm bụng hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) 3 tháng/lần cho đến khi trẻ được 7 - 8 tuổi. Tuy nhiên, các khối u giảm dần và thường không phải là vấn đề đáng lo ngại sau khi trẻ 8 tuổi. 

Tiến sĩ Beckwith khuyên rằng: đứa trẻ nào có anh hoặc chị có một hoặc hai trong số các triệu chứng của hội chứng Beckwith-Wiedemann thì đứa trẻ đó cũng nên kiểm tra siêu âm 3 tháng/lần. 

Dị tật thành bụng: có thể gây thoát vị làm cho ruột và các cơ quan khác cùng lớp màng bụng có thể trồi ra bên ngoài. Bệnh nhân có thể bị tình trạng thành bụng yếu và cơ bụng chẻ đôi, cơ bụng nhão gây táo bón. 

Chứng to các nội tạng: các cơ quan trong bụng như thận, gan, lá lách, tuyến thượng thận và tụy thường to bất thường. 

Hạ đường huyết: bệnh nhân thường bị hạ đường huyết ở khoảng 40% trẻ mắc bệnh sau khi sinh một thời gian ngắn. Tổn thương não và các biến chứng khác có thể xuất hiện nếu bệnh không được chẩn đoán và điều trị sớm. 

Chứng phì đại nửa người: trẻ bệnh có một bên cơ thể hoặc của một chi phát triển quá mức trong khi phần còn lại của cơ thể phát triển ở mức bình thường. U nguyên bào gan với đặc điểm: nguy cơ khối u giảm dần khi trẻ trên 3 tuổi; khối u chủ yếu được phát hiện bằng siêu âm bụng. 

Chứng tim to: tim phì đại hoặc dị tật tim. Hiện nay, nhờ tiến bộ trong lĩnh vực di truyền học đã giúp cho việc chẩn đoán hội chứng thông qua phân tích gen. 



Các phương pháp điều trị 

Với sự tiến bộ của y học ngày nay, hầu hết các triệu chứng có thể điều trị giảm nhẹ hay giải quyết được với điều kiện bệnh được chẩn đoán chính xác và điều trị thích hợp. 

Trẻ bị hạ đường huyết thường phản ứng tốt với điều trị bằng hydrocortison, tiêm glucose tĩnh mạch và kiểm soát chế độ ăn uống. Trẻ bị dị tật thành bụng, nếu xuất hiện thoát vị rốn, cần phẫu thuật điều trị sớm sau khi sinh. Trẻ táo bón có thể điều trị bằng thuốc. 

Chứng lưỡi to: chủ yếu phải phẫu thuật để giảm kích thước lưỡi. Việc điều chỉnh cách phát âm cần thiết cho một số trẻ. 

Đối với trẻ bị u Wilms, đòi hỏi phẫu thuật cắt bỏ thận bị ảnh hưởng và có thể dùng hóa trị liệu và xạ trị. Trẻ bị phì đại nửa người có thể được phẫu thuật chỉnh hình. 

Phòng tránh bệnh thế nào? 

Hội chứng Beckwith-Wiedemann có tính di truyền, vì vậy, việc phòng tránh bệnh là rất khó khăn. Các chuyên gia khuyên rằng: nên tránh kết hôn trong trường hợp cả hai bên gia đình bạn trai và bạn gái đều có người đã bị bệnh này. 

Việc phát hiện và điều trị bệnh sớm cũng rất quan trọng, vì vậy, mọi người cần nắm chắc các triệu chứng của bệnh để có thể giúp bác sĩ chẩn đoán được bệnh sớm: Các trường hợp trẻ sinh non nhưng vẫn to hơn và nặng hơn trẻ bình thường; Trẻ có chiều cao và trọng lượng tăng bất thường cao hơn so với trẻ cùng tuổi; Trẻ có lưỡi to và vẫn tiếp tục phát triển gây ngưng thở, ăn uống và nói khó khăn... là những dấu hiệu cần đưa trẻ khám sớm. 

Những trẻ có anh hoặc chị có một hoặc hai trong số các triệu chứng của hội chứng nói trên nên kiểm tra siêu âm 3 tháng/lần để phát hiện sớm các bất thường nội tạng... 


BS. Nguyễn Minh Hiền
Click đọc ngay…